12/05/2014


            “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia…”
            Lê Thị Thặng

            Một cựu giáo viên Trường Trung học công lập Kiến Hòa (nay gần 80 tuổi) nhận định: “Cũng nơi mái trường này, dù dưới chế độ nào, hoàn cảnh nào, trường vẫn luôn tạo nguồn nhân tài giỏi, xuất sắc cho tỉnh nhà và cả nước nói chung”.

Chủ tịch UBND TP Bến Tre Cao Thành Hiếu trao giấy khen cho em Huỳnh Vĩnh Lộc, lớp 11 Lý, học sinh giỏi cấp quốc gia năm học 2013-2014


Ngày 10/5/2014, Trường THPT Chuyên Bến Tre tổ chức lễ tuyên dương học sinh giỏi năm học 2013-2014. Đến dự có tiến sĩ Nguyễn Văn Huấn, Phó Giám đốc Sở Giáo dục, Đào tạo Bến Tre, Chủ tịch UBND TP Bến Tre Cao Thành Hiếu…Đặc biệt, năm nay, có sự tham dự của trên 200 phụ huynh học sinh lớp 9 trên toàn tỉnh. Các bậc phụ huynh này đến dự với lòng mong muốn con em của mình sẽ thi đậu vào lớp 10 Trường THPT Chuyên Bến Tre năm học 2014-2015.
            Tiến sĩ Bùi Văn Năm, Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Bến Tre, nhấn mạnh: Việt Nam là một nước có truyền thống trọng nhân tài rất sớm. Ngay sau khi đánh đuổi phong kiến phương Bắc giành độc lập, năm 1076, nhà Lý cho xây dựng Quốc Tử Giám ở Thăng Long để đào tạo nhân tài.
            Năm 1442, để trân trọng và khích lệ nhân tài, vua Lê sai hiền sĩ Thân Nhân Trung soạn Văn bia và cho khắc tên 82 tiến sĩ vào bia đá. Văn bia có đoạn ghi: “hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trống nguyên khí làm việc đầu tiên…”
            Tại Bến Tre, nhân dân của vùng đất này có truyền thống hiếu học, có nhiều nhân tài nổi tiếng như Phan Thanh Giản (1769-1867), người làng Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, vị tiến sĩ đầu tiên tại Nam kỳ lúc ông 30 tuổi; Trương Vĩnh Ký (1837-1898), người làng Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, nhà ngôn ngữ học thông thạo 27 thứ tiếng, đã biên soạn sách ngữ pháp tiếng Việt đấu tiên…Trong hai cuộc kháng chiến, Bến Tre còn sinh ra nhiều vị tướng tài ba, lỗi lạc như Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định…
            Để tạo nguồn nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, lãnh đạo tỉnh Bến Tre đã có những chủ trương, chính sách giáo dục đúng đắn và kịp thời vừa phát triển giáo dục đại trà vừa giáo dục mũi nhọn là đào tạo học sinh giỏi. UBND tỉnh thành lập trường Chuyên Bến Tre rất sớm (từ năm 1990), rồi thành lập giải thưởng Trương Vĩnh Ký, Hội Khuyến học để cấp học bổng, để kịp thời tuyên dương học sinh giỏi. Năm 2011, tỉnh đầu tư xây dựng Trường THPT Chuyên Bến Tre khang trang và hiện đại để đào tạo nhân tài cho tương lai…
            24 năm qua, Trường THPT Chuyên Bến Tre đã tạo nguồn nhân tài như sau: 1.463 học sinh giỏi cấp tỉnh, 489 học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp quốc gia, trên 3.900 học sinh tốt nghiệp đại học. Nhiều học sinh có học vị thạc sĩ, tiến sĩ và đang du học nước ngoài như em Nguyễn Tiến Dũng (khóa 2000-2003) đạt giải nhất quốc gia môn Toán, đang là nghiên cứu sinh tiến sĩ Đại học Buffalo; em Nguyễn Ái Vân (khóa 1999-2002), nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Canada; em Phan Thành Hội, học sinh giỏi cấp quốc gia môn Hóa và em Nguyễn Văn Bằng, học sinh giỏi cấp quốc gia môn Toán đang du học ở Pháp; em Lê Thiện Anh, giải nhất cấp quốc gia môn sử…Với Trường THPT Chuyên Bến Tre, hàng năm, các em học sinh giỏi tham dự nhiều kỳ thi học sinh giỏi rất cam go. Trong năm học 2013-2014, các học sinh giỏi của trường đã dự thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, thi học sinh giỏi máy tính Casio, thi học sinh giỏi Olympic 30/4 các tỉnh phía Nam, thi học sinh Nghiên cứu khoa học, thi hùng biện tiếng Anh, thi học sinh giỏi Toán và tiếng Anh trên internet do Bộ Giáo dục, Đào tạo tổ chức…Các em đã đem lại thành tích và vinh dự tốt đẹp cho nhà trường, cho gia đình và cho tỉnh Bến Tre. Cụ thể, năm học 2013 -2014, các em đã được các giải như sau: 122 giải học sinh giỏi cấp tỉnh, 22 giải học sinh giỏi cấp quốc gia, 42 giải học sinh giỏi Olympic 30/4, 7 giải Học sinh Nghiên cứu khoa học cấp tỉnh,1 giải Học sinh Nghiên cứu Khoa học cấp quốc gia, 56 giải học sinh giỏi máy tính Casio cấp tỉnh, 14 giải học sinh giỏi máy tính Casio cấp quốc gia, 78 giải học sinh giỏi tiếng Anh trên Internet(OEI) cấp tỉnh, (chưa có kết quả cấp quốc gia), 40 giải học sinh giỏi Toán trên Internet(OMI) cấp tỉnh, (chưa có kết quả cấp quốc gia). Từ thành tích trên, Trường THPT Chuyên Bến Tre vẫn giữ được vị trí tốp đầu trong khu vực ĐBSCL.
            Được biết, em Huỳnh Vĩnh Lộc, lớp 11 Lý, Trường THPT Chuyên Bến Tre, học sinh giỏi cấp quốc gia năm học 2013-2014 là con của anh Huỳnh Thanh Quang, cựu học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa, hiện là biên tập viên hoiquannhuongtra.blogspot.com

Các học sinh giỏi cấp quốc gia năm học 2013-2014

                                                            
Các học sinh giỏi máy tính Casio cấp quốc gia năm học 2013-2014.

Hoa phượng thắm

                Huỳnh Thị Kim Cúc

                Gió đưa hoa phượng tình cờ
               điểm lên tóc đỏ một thời đón đưa.
              Biết là thắm mãi tình xưa….



                         Những ngày xuân tươi mát đã xa, tiết trời dần chuyển sang những cơn mưa đầu mùa.  Có hôm trời ui ui oi nồng không mưa không nắng dễ làm  người ta thấy buồn vu vơ- một nỗi buồn không tên. Tình cờ khi đi thăm bạn ở Sơn Hòa, tôi thấy dọc đường có nhiều cây phượng trơ cành (có ít lá non) trổ đầy bông hoa màu đỏ thắm và tượng hình những trái xanh dài buông thả, làm tươi đẹp  rực rỡ một mé trời. Vào buổi chiều tan trường, những áo trắng học trò đi xe  đạp về dưới  hàng cây phượng đỏ trông đẹp làm sao, tưởng chừng  như con  đường  là của riêng học trò vậy. À, vậy là sắp bãi trường rồi. Trong tôi, kỷ niệm về những mùa hè tươi đẹp của thời đi học trước chợt hiện về.
 
            Hồi đó, trong sân trường có nhiều cây phượng to, tán lá mở rộng như chiếc dù che mưa che nắng cho học sinh nô đùa. Trên tán lá xanh um là màu đỏ  rực rỡ của hoa phượng. Phải chăng nhờ sự tinh khiết của nắng, của gió và cái  nóng của mùa hè mà hoa phượng đỏ màu như thế. Còn tia nắng vàng xuyên qua tán lá tạo bóng hoa phượng xuống mặt sân. Từ bao giờ mà hoa phượng trở  thành biểu hiện của mùa hè, của học trò và vì thế nó còn có tên là Hoa học trò và được ưa chuộng trồng trong sân trường. Khi nghe tiếng ve sầu kêu ra rả trên cành  phượng đỏ thắm thì biết là sắp tới mùa nghỉ hè, tới mùa thi- mùa của lo âu và lưu luyến, mùa chia tay…
Khi những cây phượng trong sân trường nở đầy bông thì các bạn nam tìm cách bẻ nhiều cánh phượng to để các bạn nữ ép vào tập, vào sách cho đến khô, rồi dán vào bìa giấy cứng để làm tấm thiệp. Tấm  thiệp có hình con bướm bay  đi gởi lời tạm biệt hay hình hoa mai năm cánh nói lên nhiều điều may mắn, còn hình hoa phượng có vẽ thêm cành lá tượng trưng cho tuổi học trò,…Vào những  ngày cuối năm học, những tấm thiệp tự làm đó ấp ủ bao tình cảm yêu thương được trao cho nhau làm kỷ niệm trong ba tháng hè xa cách.

Lúc đó nhiều bài thơ, bài hát nói về mùa hè của học trò đã làm thổn thức biết bao con tim bé nhỏ và được thuộc nằm lòng. Chợt nhớ và hát lại thì thầm  những câu hát ngày xưa của nhạc sĩ Thanh Sơn: <Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn
                     Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương
                             Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi
         Phút gần gủi nhau mất rồi
                 Tạ từ là hết người ơi….> tưởng chừng như mùa hè ngày ấy đang quay về. Những ca từ đó đã làm đau nhói biết bao con tim của học trò khi tạm biệt Thầy Cô, bạn bè và mái trường thân yêu để về quê nghỉ hè. Còn thầy Phạm Phụng Thạch  cũng dâng tràn cảm xúc với  học trò và ngôi trường kỷ niệm vào mùa hè sau cùng trước khi đi nơi khác:
                 <Thôi bỏ đó ngôi trường hoa phượng đỏ
                Hành lang dài cho thương nhớ mênh mông….
                   ….Thôi bỏ đó từng giờ chơi, giờ học
                 Tiếng trống ban mai áo trắng ngập ngừng….                    
                ….Thôi bỏ đó ngôi trường chừ nắng hạ
                       Lá phượng bay và bàn ghế im lìm….
                   ….Rồi ngày mai các em còn có nhớ
                      Hay quên đi như bụi phấn ngày xưa….
                    ….Thôi bỏ đó học trò dăm đứa nhỏ
                      Vài đứa thương và vạn đứa vô tình….
                    ….Rồi ngày mai có ai về trường ấy
                    Nhắn dùm cho màu bướm cũ hoa xưa
                         Có một lần có một người để lại
                         Cả cuộc đời khi cất bước ra đi.

Cùng với những tấm thiệp tự làm và những bài thơ, bài hát được yêu  thích thì các quyển lưu bút được tích cực chuyền tay nhau để viết và lưu lại cho nhau nhiều kỳ niệm đẹp của ngày xanh. Từng dòng chữ được nắn nót cho tròn vẹn yêu thương, từng ý tứ sao đậm đà tình bạn và lời tạm biệt sao thấy nao lòng: <. …Ngày mai có thể gặp nhau thật đó, giây phút xao động nầy cũng khó nói thêm điều gì nữa….> và <….Lòng thấy nao nao làm sao ấy như sợ mất cái gì đó mà không bao giờ tìm lại được nữa , đó là tuổi học trò hoa mộng của tụi mình đó bạn….hè 1975>.

Ngày ấy, khi nghe tiếng ve sầu kêu ra rả trên những cành hoa phượng đỏ thắm và ngoài đường không thấy bóng dáng áo trắng đi học về…biết  là học sinh đang nghỉ hè. Ba tháng tròn là quá đủ để học trò tận hưởng những ngày hè vui chơi thỏa thích. Có bạn thì lo phụ giúp gia đình, có bạn về vui với ông bà cha mẹ, có bạn đi làm thêm kiếm tiền mua sách vở…Tuy mỗi bạn có hoàn cảnh khác nhau nhưng cùng chung quyết tâm là học thật tốt để trở thành người có ích sau nầy. Nghỉ hè rồi bạn nào cũng nhớ trường, nhớ Thầy Cô, nhớ bạn bè da diết.
Về quê rồi không ngủ được bạn ơi
 Nhìn ra cửa chơi vơi nỗi nhớ.
Có hôm tôi và bạn H.ghé thăm, ngôi trường vắng vẻ, sân trường thì đầy lá khô và xác  phượng, cây si cũng không buồn thả rễ, phòng học thì cửa đóng im lìm, bạn bè thì  ở quê xa còn Thầy Cô thì ở nơi nào, tôi thấy mình như đang lạc lỏng. Ngôi trường quá lớn nhưng tôi vẫn muốn ôm gọn trong vòng tay bé nhỏ của  mình. Rồi vì xa học trò, hàng cây phượng bơ vơ giữa  sân trường cùng  mưa  nắng, không tiếng nói cười đùa giỡn, không tiếng trống trường nên phượng  buồn rồi thả những cánh mỏng đỏ son xuống sân trường và nhờ bạn gió đưa đi.
Thời gian nầy bạn bè rất ít gặp nhau nên nhớ nhau nhiều và luôn háo hức mong cho mau tới ngày nhập học. Bấy giờ, những cây phượng trong trường đã ra đầy lá xanh non như hân hoan chào đón học trò bước vào năm học mới. Chúng tôi lên lớp và có phòng học mới, hân hạnh được học với Thầy Cô mới, tươi vui mỉm cười chào bạn mới và nói tía lia với bạn cũ về bao chuyện trong những ngày hè xa vắng. Không khí của lớp học thì ồn ào như vỡ chợ: tiếng nói cười, tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng đùa giỡn…ơi sao mà vui quá.
Chín tháng cho niên học mới là thời gian quá đủ cho bạn bè cũ mới cùng nhau vun đắp tình cảm. Không thể nhớ hết những kỷ niệm của ngày ấy. Những hờn giận vu vơ vặt vảnh, ganh ghét tị hiềm hay nhiều chuyện như trẻ con. Đã học lớp 11 rồi mà còn méc với Thầy khi bạn cột vạt áo dài với của bạn khác, hoặc có bạn thì đỏ mặt tía tai sau khi lên bảng bị cả lớp cười rần rần vì tờ giấy ghi linh tinh bị dán ở sau lưng áo. Lúc đó, Thầy Cô chỉ mỉm cười và lắc đầu:< Các em đang  trở thành người lớn mà trẻ con quá, thôi bỏ lỗi cho bạn đi >. Còn nữa, ngày  đó học sinh đi học một buổi, buổi còn lại ai có muốn đi học đánh máy chữ, nữ công gia chánh, công nghệ…thì học, đặc biệt là không đi học thêm mà chỉ tự học hay học nhóm ở nhà bạn.

Theo tháng năm rồi cũng tới ngày chúng tôi rời xa ngôi trường và Thầy Cô yêu quí, còn bạn bè thì chia xa biết có còn gặp nhau nữa không.Vào những buổi học cuối cùng, không  khí của  lớp học sao mà trầm buồn khó tả - một hiện tượng hiếm thấy. Và rồi ngôi trường cũng vắng bóng lứa học trò chúng  tôi dù hàng  phượng vĩ còn khoe sắc đỏ thắm tươi, tiếng nói cười to nhỏ ngày nào lại thay bằng nỗi buồn tê tái, kỷ niệm ở chỗ ngồi học, nơi bảng đen (lúc đứng làm bài), bụi phấn trên tóc của Thầy Cô…càng làm ta lưu luyến. Xin giả từ con đường bên bờ hồ Chung Thủy có hàng me tây bóng ngả xuống làn nước trong xanh thơ mộng và cổng trường trung học uy nghiêm, kính yêu. Còn những tháng ngày gần gũi đẹp nên thơ nữa  khi xa rồi có hững hờ hay không và bóng hình của ai kia sao nghe thương nhớ đong đầy. Chuỗi ngày dài miệt mài học tập và rèn luyện để mong đậu vào đại học nhưng sao lòng không muốn rời xa những gì thuộc về thời đi học mến yêu, ôi thật là mâu thuẩn!
Lần giở lại từng trang lưu bút của ngày xanh: <…. Ghi lại nơi đây lời tạm biệt.Tạm biệt vì mong được gặp nhau ở giảng đường đại học, cố gắng lên bạn nhé.> hay<….Vì tương lai, chúng  mình hãy để vấn vương sầu muộn khi chia tay qua một bên mà cố gắng học tập tốt. Hẹn gặp lại nhau và mãi là bạn bè của nhau nhé.> Còn thầy chủ  nhiệm Trần Quang Mân luôn dặn dò:< Thầy đã khuyên bảo nhiều rồi và các em cũng rất tiến bộ nhưng thầy vẫn muốn dặn thêm: các em hãy cố gắng vươn lên để thực hiện được ước mơ và hãy là người có ích cho xã hội. Hè 1976 >. Và còn nhiều nữa những lời động viên, nhắc nhở đầy yêu thương của Thầy Cô, bạn bè ngày ấy như vẫn còn nguyên cảm xúc ban đầu cho dù thời gian đã đi xa.

Bao năm xa ngôi trường cũ là ngần ấy năm nhớ về những mùa hè kỷ niệm. Có mùa hè đi qua vội vã, cũng có mùa hè gợi nhiều nhớ nhung mênh mang.  Phải chăng màu hoa phượng đỏ thắm tươi tinh khiết minh chứng cho những mối tình lãng mạn luôn là ký ức đẹp của tuổi học trò và làm cho nỗi nhớ về nhau càng thêm da diết.
Và mỗi độ hè sang, các cựu học sinh nếu có nhớ thương về người xưa,  trường cũ xin hãy một lần hát lại thì thầm và chầm chậm những câu hát của ngày xưa đi học, và lắng nghe tiếng lòng mình thổn thức:<Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn                                             
                     Chín mươi ngày qua chứa chan tình  thương….
                    …. Màu hoa phượng thắm như máu con tim
   Những lần hè sang kỷ niệm
             Người xưa biết đâu mà tìm.


                                                                     (Tháng 5 năm 2014)

Cầu thang dãy B

Ngày hè -ảnh: PLHH.

04/05/2014


KÝ ỨC THỜI ÁO TRẮNG

Lời phê chân tình!

Nguyễn Thành Nhơn

Xưa tôi không là học sinh xuất sắc được ghi tên trong bảng Danh dự của nhà trường hàng năm; không có thành tích gì đáng kể, gây ấn tượng đối với thầy cô qua các thời kỳ. Giờ không phải là một người thành đạt trong công việc, trong cuộc sống bộn bề, lo toan này !
Một chiều bất chợt nhận được tập “Kỷ yếu 20 năm họp mặt (Hồ Chung Thủy - tập 2)” do người anh trao. Qua từng trang sách, những ký ức một thời áo trắng cứ đua nhau hiện về, với biết bao nỗi niềm của đứa học trò sau 47 năm vắng bóng thầy cô cũ, bạn bè xưa; rời xa mái trường Trung học công lập Kiến Hòa thân yêu !
Vội vã vào tủ sách gia đình, tìm lấy cặp hồ sơ học sinh mà từ sau ngày giải phóng 30/4/1975 đến nay tôi vẫn cất giữ cẩn thận bên mình, xem như là báu vật của một thời áo trắng sân trường!
Nhà nghèo, đông anh em nên việc phấn đấu rồi được vào trường công lập qui mô và chất lượng nhất tỉnh thời đó, có nề nếp hơn, đỡ tốn học phí hơn như anh em chúng tôi cũng là niềm vui sướng, vinh dự lớn lao đối với bản thân và gia đình rồi.
Buổi sáng, buổi học của nam sinh và ngược lại. Học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa ở 2 cấp học đông lắm. Hai anh em chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe đạp không có ba ga để đến trường. Vất vả nhưng phấn chấn vô cùng. Anh tôi đang học lớp 11 còn tôi đã vào lớp đệ thất của trường.
Vào trung học, tôi ngán nhất là môn lịch sử. Học trễ, lớn tuổi hơn bạn bè, nhưng sức học cũng xoàng, có lúc đặng lúc không. Nên học kỳ I đã bị cô Lữ Thị Đoàn – giáo sư dạy môn Sử- Địa phê một chữ “Kém” khô khan, to tướng vào thành tích biểu! Lời phê này gồm cả mặt học lực và hạnh kiểm của học sinh. (Vì trong trang lời phê của thành tích biểu có ghi rõ yêu cầu như thế)
Lần đầu tiếp xúc nội dung lời phê ấy, tôi cảm thấy giận cô Đoàn vì bản thân mình không có lỗi gì về hành vi, đạo đức đến nỗi phải nhận lấy đánh giá chung “xấu” như thế. Nhưng sau đó được cô Giám thị (Trần Thị Ất) giải thích, lòng thấy an tâm hơn. Biết đây là lời phê chân thật để học trò phấn đấu, nên bắt đầu từ đó trong học tập tôi có tập trung hơn. Sang học kỳ II được cô đánh giá là “Khá, tiến bộ, đáng khen!”.
Mọi ấm ức vỡ òa, theo dòng thời gian dần quên lãng. Nhưng trong công việc quản lý mình đang làm, luôn dặn lòng, nhắc nhỡ đồng nghiệp giáo viên: Học sinh là thế hệ trẻ, tương lai của đất nước, cần có sự chăm chút thật chân tình, cần có lời nhận xét xác đáng để các em có kỹ năng sống và làm việc hiệu quả, hữu ích cho đất nước hơn!
Thành kính tri ân các bậc tiên sư đã tận tình dạy dỗ, dìu dắt chúng em trưởng thành về nhân cách, tri thức.

(Nguyễn Thành Nhơn, lớp đệ thất 7, niên khóa 1969-1970,
Trường Trung học công lập Kiến Hòa).

 Hiện là giáo viên trường THCS Châu Bình- Giồng Trôm- Bến Tre.
 Quê quán: xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

                                                                                                     (Châu Bình, ngày 21/4/2014).




01/05/2014


            Trở về mái trường xưa
Sáu Quang

Ngày 1/5/2014, các cựu học sinh Trường phổ thông trung học Nguyễn Đình Chiểu khóa 1986 – 1989 tổ chức buổi họp mặt sau 25 năm rời mái trường.




Nơi ngôi trường xưa bên hồ Chung thủy mà nay là Trường THPT Chuyên Bến Tre, các cựu học sinh vui mừng được đón tiếp các thầy cô từng giảng dạy mình, các bạn bè cùng khóa 1986 - 1989 và thầy Trương Thọ Lương, giáo viên môn Vật lý khóa này, hiện là Hiệu phó Trường THPT Chuyên Bến Tre….
Nơi sân trường, một cựu học sinh bồi hồi nhớ lại:“Đã 25 năm trôi qua, kể từ ngày các học sinh khóa 1986 – 1989 Trường phổ thông trung học Nguyễn Đình Chiểu rời xa trường xưa, với biết bao kỷ niệm ngọt ngào của tuổi học trò,  chúng tôi luôn nhớ về trường – nơi có đội ngũ thầy cô giảng dạy nhiệt tình, tâm huyết với sự nghiệp trồng người, hết lòng vì học sinh thân yêu và các bạn bè thương mến. Hôm nay đây, chúng ta gặp nhau, nhìn lại để nhớ, nhìn lại để yêu với những nụ cười rạng ngời xen lẫn những giọt nước mắt yêu thương.
            Kỷ niệm ngày nào vẫn nguyên vẹn và ngọt ngào cho dù thời gian đã làm bạc đi màu áo trắng. Bờ Hồ vẫn còn đây, vẫn chung thủy đợi chờ người xưa trở lại…Bao năm xa cách, tưởng rằng đã quên, nhưng ngày hội ngộ hôm nay, những kỷ niệm hiện về như mới ngày hôm qua. Ngắm lại ngôi trường yêu dấu, cảm giác vừa lạ, vừa quen. Trường giờ đã thay đổi nhiều hơn trước, khang trang hơn, tiện nghi và chất lượng hơn…Chúng ta hãy sum vầy với thầy cô, với bạn bè, để chúc phúc cho các thầy cô thân yêu, cho từng bạn bè trong ngày hội ngộ. Tất cả chúng ta đều chung một tấm lòng tri ân các thầy cô đã tận tình dìu dắt chúng ta qua từng nấc thang, nuôi dưỡng ước mơ, xây đắp niềm tin và nghị lực vượt qua khó khăn để vững bước vào đời”.
            Nhiều hình ảnh gây xúc động trong phần giao lưu của các cựu học sinh, ví như trường hợp của em Thùy Linh. Em Thùy Linh do hoàn cảnh khó khăn nên lúc học lớp 12 đã nghỉ giữa chừng. Thầy Trương Thọ Lương đã đến tận nhà em tại xã Bình Phú (TP Bến Tre) kiên trì vận động em và gia đình cố gắng cho em tiếp tục đến trường. Sau đó, em Thùy Linh đã trở lại trường, cố gắng vượt qua mọi khó khăn, cố gắng học tập, tốt nghiệp THPT. Khi lên đại học, em Thùy Linh vừa làm kiếm sống, vừa lo học và giờ đây em là bác sĩ của bệnh viện y hoc cổ truyền Trần Văn An (Bến Tre). Em Nguyễn Thị Pha Giang, nhà ở xã Mỹ Thạnh An, khuyết tật mất một chân nên em đến trường rất vất vả vì phải qua đò ngang trên sông Bến Tre. Cuộc sống và những ngày đến trường của em có nhiều mặc cảm. Nhưng tới khi trưởng thành, em Pha Giang gặp em Võ Trung Tính, học hơn em hai lớp cũng tại trường và hai người đi đến hôn nhân, đến nay đã có hai con. Em Tính tâm sự: “Vợ em chỉ có một chân nên sinh ra một đứa con là em phải “trực chiến” xuyên suốt hơn ba năm liền. Nhưng ở đời mình mất cái này thì được cái kia. Từ sự thủy chung ấy, em luôn gặp may mắn trong cuộc sống, làm ăn gặp nhiều thuận lợi để lo cho mẹ con… Thầy Nguyễn Văn Trai, người thầy của Pha Giang trước đây, bùi ngùi nghe Pha Giang và Trung Tính kể lại câu chuyện của hai đứa vượt khó sau 20 năm…

Thầy Trương Thọ Lương và em Thùy Linh

Thầy Nguyễn Văn Trai và vợ chồng Trung Tính, Pha Giang


            Trong dịp hội ngộ này, các cựu học sinh đã đóng góp tặng 7,5 triệu đồng cho quỹ khuyến học và thắp sáng ước mơ của Trường phổ thông trung học Nguyễn Đình Chiểu và 15 suất học bổng, mỗi suất 500.000 đồng cho các học sinh có nhiều khó khăn của Trường THPT Chuyên Bến Tre, tặng quà lưu niệm cho các thầy cô và cựu học sinh; phát hành quyển Kỷ yếu họp mặt 25 năm Trường phổ thông trung học Nguyễn Đình Chiểu khóa 1986-1989 đến các thầy cô và cựu học sinh. Kỷ yếu là món quà thấm thía tình cảm, chất chứa quãng thời gian vấn vương mà thầy – trò xa cách. Kỷ yếu hồn nhiên và trong sáng.


Các cựu giáo viên
Các cựu học sinh.




20/04/2014

            Thạnh Hải xa mà gần

            Huỳnh Thanh Quang

            40 năm chúng tôi xa mái trường xưa, mang theo kỷ niệm ngọc ngà và trong hành trình mưu sinh dài xa thăm thẳm ấy, những cựu học sinh thế hệ chúng tôi, dù ít nhiều, vẫn luôn để tâm thương yêu các học sinh thế hệ đàn em đang còn nhiều khó khăn tại quê nhà (Bến Tre). Ngày 19/4/2014, chúng tôi đã đến với các em học sinh tại một ngôi trường tiểu học ở tận cùng cù lao Minh: xã Thạnh Hải.

Ngư dân Thạnh Hải


            Trời còn mờ tối, lúc chưa 5 giờ sáng tôi (Huỳnh Thanh Quang), Lưu Huỳnh Thống, Đặng Thị Kim Liêng đã có mặt tại phòng khám răng của anh Lương Văn Tô My(số 3, đường Ký Hòa, Q.5, TP HCM),Trưởng ban Liên lạc cựu giáo viên và học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa để về Bến Tre. Theo hành trình, xe chúng tôi sẽ về đến Hội quán Nhường Trà (phường 8, TP Bến Tre) lúc 7 giờ. Tại đây, chúng tôi xả hơi chốc lát rồi rước thêm anh Cao Thành Văn, chị Võ Thị Ngọc Liễu (cựu học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa niên khóa 1966 -1973)-người đem tặng 1.000 quyển tập cho các em học sinh tại Thạnh Hải.
            Lúc gần 10 giờ, xe chúng tôi vượt qua cầu Ván mới xây dựng khang trang (xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú), hiện ra là một không gian với những nổng cát cao, những vạt rừng ngập mặn, nắng đỏ chói chang và nhuốm mùi biển cả rộng xa ngút tầm mắt. Xe chúng tôi rẽ vào Hồ Cỏ, đến ngôi trường tiểu học xã Thạnh Hải nằm cạnh đó. Từ đây nhìn lại con đường đã đi, chỉ trong 5 tiếng đồng hồ, chúng tôi đã vượt quãng đường xa khoảng 160 km.
            10 giờ 30, các em học sinh nhận học bổng và học phẩm đã tề tựu đông đủ tại ngôi trường đầy nắng gió này. Ngoài 1.000 quyển tập cho các em, Ban Liên lạc trao 20 suất học bổng, mỗi suất 300.000 đồng cho các học sinh Trường Tiểu học và Trường Phổ thông cơ sở xã Thạnh Hải.
            Anh Lương Văn Tô My nói với các học sinh:”Đây là món quà nho nhỏ do các anh chị cựu học sinh Trường Trung học công lập đóng góp gởi cho các em. Ban Liên lạc đã chọn những điểm trường xa xôi nhất, còn nhiều khó khăn trên địa bàn tỉnh nhà để lần lượt gởi đến các em chút tình…”.

            Trước phút chia tay, thầy Nguyễn Phú Khánh, Hiệu trưởng Trường Tiểu học xã Thạnh Hải cho biết hiện giáo viên toàn xã là 46 người, hơn 50% là giáo viên từ những địa phương khác đến dạy, dạy một thời gian rồi xin đi. Hiện tại, sinh hoạt về tinh thần của thầy cô còn nhiều mặt hạn chế so với những nơi khác trong tỉnh. Chiều, tối ở đây quạnh quẽ, buồn lắm… Anh Lương Văn Tô My, chị Đặng Thị Kim Liêng, chị Võ Thị Ngọc Liễu liền quyết định là mua tặng cho trường cái Ti Vi màu đời mới. Mỗi người xuất ra 2 triệu đồng từ tiền túi của mình, tổng cộng 6 triệu đồng và giao cho anh Cao Thành Văn mua, chuyển giúp đến Trường Tiểu học xã Thạnh Hải càng sớm càng tốt. Ngay buổi chiều 19/4, anh Cao Thành Văn đã mua xong một Ti Vi hiệu Sony Led 32 inchs,  theo đó cửa hàng sẽ chuyển giao đến tận nơi vào ngày đầu tuần với tổng cộng 5,95 triệu đồng…
                                                          
Anh Lương Văn Tô My vượt đường xa đến với Thạnh Hải


Chị Đặng Thị Kim Liêng, Ủy viên Tài chánh, BLL cựu GV&HS Trường Trung học công lập Kiến Hòa phát học bổng cho các em
                       
Các em học sinh nhận học bổng

BLL chụp hình lưu niệm với các thầy cô Trường Tiểu học Thạnh Hải.


 


08/04/2014

Kỳ thi Olympic năm 2014: Trường THPT Chuyên Bến Tre đạt 9 huy chương vàng


           

            Kỳ thi Olympic 30-4 lần thứ 20 năm 2014 do Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong (TP HCM) tổ chức diễn ra tại TP Hồ Chí Minh ngày 6/4. Các thí  sinh là số học sinh THPT được tuyển từ 118 trường THPT Chuyên, THPT từ tỉnh Quảng Trị trở vào đến Cà Mau. Kết quả: Trường THPT Chuyên Bến Tre đạt 9 huy chương vàng: môn Toán, Nguyễn Duy Linh (lớp 11 Toán), môn Vật Lý, Huỳnh Vĩnh Lộc (lớp 11 Lý) và Hồ Quang Huy (lớp 11 Lý), môn Hóa, Trần Thủy Cát (lớp 11 Hóa), môn Sinh, Phạm Thị Mai Trúc (lớp 11 Sinh), Hồ Văn Nhật Trường (lớp 11 Sinh) và Nguyễn Thanh Tuấn (lớp 11 Sinh), môn Sử, Phạm Minh Châu (lớp 11 Sử) và Nguyễn Châu Pha (lớp 11 Sử) và 15 huy chương bạc, 18 huy chương đồng. Trong nhiều năm qua, Trường THPT Chuyên Bến Tre luôn đạt thành tích tốt tại các kỳ thi khu vực, toàn quốc.


                                                                                                                                   Lê Thị Thặng

07/04/2014

            Đến với trang trại Anh Mỹ

            Huỳnh Thanh Quang

            Hàng năm, anh Trần Minh Mẫn lại rủ các cựu học sinh, giáo viên Trường THPT huyện Mỏ Cày (Bến Tre) lên trang trại của anh ăn trái cây chơi. Mỗi lần đến đây, tôi thấy diện tích trang trại của anh càng nở rộng với cây trái sum suê và tôi không khỏi giựt mình khi biết được mức thu nhập của trang trại này.



            Đem chuông đánh ở xứ người
            Anh Trần Minh Mẫn quê gốc huyện Mỏ Cày. Trang trại của anh có tên Anh Mỹ, rộng 62 hecta, nằm sát sông Bé thuộc xã Hiếu Liêm, huyện Tân Uyên, Bình Dương. Đặc biệt là 62 hecta này là đất liền canh, cứ hết khu trồng quýt thì tới khu trồng cam, trồng bưởi da xanh, mỗi khu rộng khoảng 20 hecta. Và đặc biệt hơn nữa là tất cả cây giống cam, quýt, bưởi da xanh anh đều đem từ Bến Tre lên đây trồng.
Chúng tôi luồn sâu vào vườn cam sành trang trại Anh Mỹ. Anh Thạch Hải, quê huyện Cầu Ngang (Trà Vinh), một nhân công chăm sóc vườn cây có múi tại đây, cứ lựng khựng rồi nói:” Có mấy anh đến tham quan vườn cam, kêu tôi hái trái, tôi mới dám hái…”. Tôi hỏi: “Vì sao? Chỉ xin vài trái, cầm tay chơi cho vui vậy mà. Ở đây, trái cây phải tính đến con số tấn, tấn”. Anh Thạch Hải là người gốc Khơ me nên nói giọng cứng cứng: “Làm công việc như tụi tôi mà tự hái một trái, bị phát hiện, sẽ bị phạt 50.000 đồng. Kỷ luật ở đây nghiêm lắm – anh tiếp lời – hầu hết nhân công chăm sóc vườn trái cây tại đây đều ở dưới miền Tây (Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng…) lên làm, riêng “hệ” này có khoảng 70 nhân công, tháng chủ trả cho 3,5 triệu đồng, công việc làm liên tù tì, suốt năm. Về ăn, ngủ: trong trang trại có hai dãy nhà rộng dành riêng cho nhân công”. Lại hỏi: “Sáng nay mấy anh, mấy chị đang làm gì trong vườn cam này?” Đáp:” Làm giàn đỡ để giúp trái cam không hoằng xuống. Còn tầng trên ngọn, cũng làm giàn phủ để phủ lên tấm che chống nắng – lượm lên một trái cam vừa rụng, nám vàng một bên, anh giải thích – Như trái cam này đây, bị nắng…táp rồi đó”.
            Anh Mẫn tâm sự: “ Thật ra, tôi là một dược sĩ. Năm 1999, tôi và anh Lương Văn Ấu, cử nhân kinh tế, hợp tác đầu tư xây dựng trang trại này. Anh Ấu là người rất nhiệt tình, giỏi giang và tâm huyết với trang trại. Đến năm 2012, trang trại chúng tôi gồm 50 hecta nhưng vào năm 2013 đã mở rộng thêm 12 hecta – anh Mẫn từ tốn – Sự thành công của hôm nay là nhờ các anh em hỗ trợ, nhất là người quản lý điều hành là anh Trân Văn Thuận nắm rất vững về kỹ thuật trồng cây có múi”. Tại khu trồng bưởi da xanh, anh Mẫn dẫn tôi đi xem những cây bưởi thuộc hạng “lão làng”, trong đó có những cây đã 15 tuổi. Tôi lấy gang tay đo thử gốc bưởi này, úi trời, bề hoành của gốc bưởi hơn 6 gang tay. Anh Mẫn cho biết chỉ riêng cây bưởi này trang trại thu hoạch trên 20 triệu đồng/năm. Tôi hỏi anh Mẫn tổng sản lượng trái hàng năm của trang trại, anh nói cam (cam sành, cam xoàn), quýt (quýt đường, quýt Tiều), bưởi da xanh, mỗi thứ thu hoạch từ 50 -70 tấn/ha/năm, trong khi đó tại ĐBSCL chừng 20 -25 tấn/ha/năm là quát tầm. Cam, quýt giá thấp hơn bưởi da xanh nhưng thu hoạch hai loại này cộng lại, sản lượng khá hơn, khỏe hơn nhiều so với bưởi (bưởi khi ra bông đến kết trái phải qua nhiều công đoạn kỹ thuật chi li). Anh Mẫn nở nụ cười:” Cam, quýt năm 2014 có giá hơn 2013, hiện nay, bán tại đây đã 30.000 - 32.000 đồng/kg…” Tôi làm bài toán và nghĩ thầm: “Vậy là tiếng chuông của trang trại Anh Mỹ đã ngân vang trên đất miền Đông…”.

Bưởi da xanh tại trang trại Anh Mỹ

            Lợi thế miền Đông
            Đất đai phì nhiêu, mầu mỡ, có thể mở rộng diện tích liền canh chừng vài chục hecta để có sản lượng lớn, sản phẩm đồng đều là điều có thể thực hiện được tại miền Đông. Còn tại ĐBSCL, hộ chỉ vài hecta (những người có nhiều đất ) nên việc canh tác, sản xuất tại đây vẫn trên nền nhỏ lẻ, manh mún, khó chủ động nhất là về mặt sức cung.
            Để phát huy lợi thế của miền Đông, anh Trần Văn Thuận cho biết về sức đầu tư của trang trại: Về phân bón, cứ khoảng 2 tháng chi 1 tỷ đồng, gồm 600 triệu đồng phân vô cơ, 400 triệu đồng phân hữu cơ. Riêng về hệ thống tưới cây, hệ thống tưới này được đặt âm dưới lòng đất, béc phun tưới nước tự động, đầu tư tính ra khoảng 60 triệu đồng/hecta. Trang trại sử dụng điện 3 pha trên sông Bé, vào mùa khô, cứ hai, ba ngày, các cây nước sẽ xoay vòng tưới đều các gốc cây ăn trái. Toàn bộ lưới điện 3 pha do chính quyền Bình Dương tài trợ, chi phí gần 1 tỷ đồng cách đây 7 năm. Tôi hỏi anh Năm Hiền (quê xã Bình Khánh Đông, Mỏ Cày Nam, Bến Tre), người quản gia của trang trại: “Khi thu hoạch, trái cây của trang trại chở đến các vựa?” Anh Năm cười hiền: “Các mối đến trang trại, thu mua và đóng gói tại đây. Dịp gần tết…sung lắm vì lúc này là thời điểm thu hoạch bưởi da xanh”.
            Rảo khắp khu trồng bưởi da xanh bên bờ sông Bé của trang trại, tôi không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy nơi đây bưởi không “ngủ mùng” (bao trái), tôi hỏi gặng anh Mẫn: “Ba, bốn năm qua, sâu hồng tấn công dữ dội vào các vườn bưởi tại Bến Tre, ĐBSCL. Để bảo dưỡng trái bưởi không bị xì mủ do sâu hồng đục, các chủ nhà vườn tại đây phải may bao bằng vải mùng và cho bưởi “ngủ mùng” khi trái mới bằng ngón chân cái. Vào một vườn bưởi da xanh, thấy màu trắng, đỏ của bao vải mùng bịt trái nhiều hơn màu xanh của cây trái!?” Anh Mẫn cho rằng sở dĩ nơi đây không có sâu hồng vì đất rộng, liền canh, mọi biện pháp về trừ sâu được khoanh vùng, xử lý kỹ thuật triệt để. Còn tại dưới quê nhà (Bến Tre – ĐBSCL), người ta chỉ canh tác trên diện tích 5-7 công đất hoặc một vài hecta, đất lại san sát nhau, xịt thuốc bên này, sâu bay sang bên kia rồi đáo lại tiếp tục phá hại cây trái.
            PGS- TS Nguyễn Minh Châu, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã một lần đến trang trại Anh Mỹ. Ông đánh giá rất cao trang trại này vì thu nhập tại đây rất cao, ông nói: “Ở miền Đông mà làm được trái vụ trên cam quýt thì tay nghề phải rất cao, người trồng vừa nắm được kỹ thuật vừa nắm được thị trường lúc nào cần”.

Tôi đã nhiều lần ăn cam, quýt, bưởi da xanh của trang trại Anh Mỹ. Chất lượng múi ngon ngọt, thanh khiết và khi ăn tôi không có cảm giác lo lo như phải mua các loại trái cây có hình thức sặc sỡ, tươi chong đang tràn ngập ngoài các chợ.

Anh Trần Minh Mẫn.