15/10/2013

Đọc bờlốc Hội quán Nhường Trà

·                    Nhân đọc bài Chợ Ngã Năm… của Phan Lữ Hoàng Hà
ST 14.10.2013


 
Nơi sân trường xưa.
Gần một năm rồi, trang bờlốc này vẫn còn đó những bài viết “lưa thưa tơ liễu buông mành”. Chắc tại khai trương bờlốc này cận ngày Cá tháng Tư hay sao ấy ! Hay tại Ban biên tập không có lời “thanh minh thanh nga” cho Thầy Cô và đồng bạn xa gần được rõ “vì sao và vì sao” có bờlốc này…
Mà thôi, những bài viết “từ hình dung, từ tâm tưởng” trong thời gian qua tàm tạm cho thấy bờlốc này cũng có bóng dáng Nhà trường, có ký sự chân quê, có lời “gợi mở tấc lòng” với kỷ niệm xưa và nay…! Như vậy kể ra cũng chỉ là “khởi đầu nan”, nhưng giá mà có thêm nhiều bài viết mới, giọng điệu mới và phong thái mới… thì bờlốc này cũng đáng là một địa chỉ nhân rộng tình Thầy trò, nghĩa đồng bạn có chung một mái trường xưa...
Thật ra cũng có thư xa gần gửi về thăm hỏi trang bờlốc này nhưng chưa ai hẹn sẽ viết cái gì, kể cái gì hay đăng cái gì. Âu cũng là tâm trạng “dễ đọc – ngại viết” ấy mà thôi.
Thôi thì, vì tâm sự “Thương lắm trường ơi” *, nhân đây xin Thầy Cô và đồng bạn xa gần viết bài cho bờlốc này, được xem như một trạm “Dừng chân đứng lại nhìn Trường cũ – Một mảnh tình riêng ta với ta”**… ! Rồi thì cứ mỗi độ xuân về họp mặt, những bài viết đầy tâm tưởng và giàu hình dung của bờlốc này sẽ được in ở đặc san xuân Hồ chung thủy của Ban liên lạc Thầy trò vốn có chung một mái trường mà xưa nay vẫn còn đó bên Hồ chung thủy Bến Tre.
Khi viết những dòng tâm tưởng trên đây, cứ mãi hình dung rằng rồi đây bờlốc này chắc sẽ có phần nào “khởi sắc”; không đến nỗi buồn như chợ chiều Ngã Năm năm xưa…    


* Tựa bài thơ của Cô TGT Nguyễn Thị Lan

** Phỏng thơ Bà Huyện Thanh Quan

Sắp tròn 20 tuổi

Trần Thân Ái



Vậy là còn 2 tháng nữa là Ban Liên lạc cựu giáo viên và học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa (BLL) ngày trước sẽ kỷ niệm 20 năm (1994-2014) mà từ Hán Việt gọi là “nhị thập chu niên”. Nghe nói BBL đang chuẩn bị bàn tính về cuộc họp mặt lần nầy thật ý nghĩa và đáng nhớ. Là người đồng hành với BLL 2 thập niên qua, xin có đôi lời chia sớt:
            Trong lần họp mặt thứ 19 năm rồi, BBL làm được tờ đặc san có tên Hồ Chung Thủy (ĐSHCT) rất ấn tượng và bài vở rất hài hòa. Lần này tròn 20 năm, từ gần cuối tháng 10, BLL tích cực kính mời thầy trò viết bài cho ĐSHCT đã qua “thôi nôi” và lên 2 tuổi. Theo kinh nghiệm, thời gian thu nhận và biên tập từ 20/10 đến đầu tháng giêng 2014 là vừa; bằng không sẽ lập lại tình cảnh cập rập in ấn như năm rồi, rất sốt ruột. Điều tế nhị hơn là chuyện chi phí in ấn, e rằng BLL phải tiếp tục vận động mạnh thường quân hay sẽ “bán” theo giá bìa thay vì tặng như năm rồi để “hoàn lại vốn”? Hy vọng BLL sẽ bàn tính số lượng ĐSHCT như một món quà xuân và là một kỷ vật của lần họp mặt thứ 20 của toàn thể Thầy trò trường ta…
            Thầy trò trường ta nay đã già và yếu cả rồi! Nên chăng BLL thu xếp làm sao có nhiều cơ hội giao lưu, chia sớt tâm tình, vấn an sức khỏe vì thời gian và tuổi tác không chỉ có trong cuộc họp hàng năm mà cả những ngày trong năm…Nên chăng BLL có thêm một vấn đề cụ thể để mở rộng sự hiện diện và tham gia của các thế hệ Thầy trò từ thập niên 70 về sau; để lần họp mặt thứ 21 trở đi sẽ đông vui và thắm thiết tình nghĩa hơn; thậm chí sẽ hình thành một BLL mới năng động, sáng tạo hơn, sẽ thay thế cho BLL cũ đã già và yếu cả rồi…
            Đôi lời đến đây xin dừng lại, để kính mời những ý kiến chân tình cùng chia sớt với BLL trường ta…


            LT: Bài vở, ảnh gởi cho Đặc san Hồ Chung Thủy: phanluhoangha@gmail.com

09/10/2013


                        Đi rập cua
            Sáu Quang

Phía trước chiếc xuồng nhỏ đi rập cua của anh Tám là vùng đất cuối sông thuộc huyện biển Thạnh Phú với mạng sông rạch, vàm, khém cắt chẻ như bàn cờ. Ở đó, dưới những sông rạch chằng chịt là nguồn thủy sản vô cùng dồi dào phong phú do thiên nhiên ban tặng cho con người. Dù trải qua bao thăng trầm nhưng con cua hiện nay vẫn có giá.

Chuẩn bị đi rập cua

             Một chuyến đi rập…
            Chạy vội ra bờ sông Băng Cung, tôi gọi réo xuống dòng sông: “ Ơ…anh Tám, anh cho tôi theo anh một chuyến…”. Nhận ra tôi là người bà con bên vợ của anh nên anh trở tay chèo, đưa mũi chiếc xuồng nhỏ quay lại vào bờ. Ngồi trên chiếc xuồng 7 lá chuẩn bị đi rập cua, anh Tám ngước nhìn lên bầu trời chiều với nhiều cụm mây đen ve vãng, giọng anh lừng khừng trước tôi: “Chú em có biết lội sông hôn? Mùa này đi trên sông nước nguy hiểm lắm!..” Tôi liền đáp: “Tàm tạm, nhưng mà anh Tám hãy yên tâm đi, có gì thì còn…cái thùng nhựa của anh Tám nữa chi.” Anh Tám cười gượng: “Hừ. Mà đi khuya lắm mới về hà…”
            Chiếc xuồng nhỏ chở chúng tôi chèo về hướng rạch Cừ, nơi giáp ranh giữa xã An Thạnh và An Điền. Xa xa phía trước, dòng Băng Cung càng nở rộng và chẻ ra thêm  rất nhiều nhánh trước khi đổ vào sông lớn Hàm Luông,  rẽ qua Eo Lói đổ vào sông lớn Cổ Chiên. Đó là mạng sông rạch chằng chịt thuộc vùng ven biển Thạnh Phú (Bến Tre) với nhiều địa danh nghe lạ lẵm nhưng đầy ấn tượng: rạch Bà Hương, rạch Ngát, Láng Cháy, Heo què, Rều, Giồng Bãi, Vàm Rỗng…
Xuồng chúng tôi khi chèo gần đến rạch Cừ thì bỗng xuất hiện nhiều cơn gió mạnh kéo đến, gió làm nổi sóng trên sông, mây đen làm trời tối sầm nhanh chóng. Chiếc xuồng đi rập cua chồng chành, lắc lư dữ dội. Với kinh nghiệm mấy mươi năm sống nghề sông nước, anh Tám đoán chắc là giông sẽ ập đến hoặc  cũng có thể là gió lốc, con trốt sẽ đánh vật con sông này ngay trước buổi hoàng hôn. Nhanh như con thoi, anh mộp người xuống, căng lực vào tay chèo, đưa ngay chiếc xuồng vào trốn bên một vạt rừng bần ven sông. Quả vậy, không phải giông, mà đó là một cơn lốc…chết người bất thần kéo qua nơi cuối sông Băng Cung, cách chỗ chiếc xuồng chúng tôi đang ẩn trốn… thần gió không xa. Chỉ tay về hướng con lốc xoáy vừa cuốn qua, anh Tám thều thào: “ Nếu đang thả rập cua ở đó, lớ ngớ chắc là bà Thủy kêu...”
            Rồi như màn ảo thuật của ông Trời, sau lốc xoáy chừng mười phút, không gian trên sông nước lại quang đãng với ráng chiều rựng đỏ phía chân trời. Trên xuồng, anh Tám lần lượt móc mồi chình vào các chiếc rập cua và chuẩn bị thả rập xuống lòng sông. “ Ô kìa… gì vậy ta?”- tôi thốt lên khi thấy một đoàn xuồng mấy chục chiếc nối đuôi nhau, dài thườn thượt đang tiến gần về phía xuồng chúng tôi. Kéo đoàn xuồng kia là một ghe máy khá lớn. Tôi thấy ngộ nhưng với anh Tám thì không lạ gì, anh nói: “Thì họ cũng đi rập cua như mình. Cái khác là mình đánh “du kích” còn họ thì đi hành quân xa - anh giải thích- Du kích là trong ngày, canh theo con nước để thả rập bắt cua, thả xong lại về. Còn đi rập cua theo đoàn như họ là hành quân xa vì họ đi ba bốn bữa hoặc có khi cả tuần lễ mới về.  Khi đi, họ phải chuẩn bị đủ thứ để có thể sống và thao tác nghề  dài hơi trên một chiếc xuồng 7 lá chật hẹp như chiếc của mình đang đi. Họ đi xa hàng chục cây số tính từ điểm xuất phát. Thay vì phải chèo bằng tay, để tiết kiệm sức, họ cùng chịu tiền dầu mỡ nhờ một chiếc ghe máy kéo theo hết cả đoàn xuồng đi rập cua. Chiếc ghe máy kia lại một công hai việc: vừa đi rập cua ngoài ven biển, vừa có người hùn vô tiền dầu…Gần đây, xăng dầu lên quá mạng, dân đi rập cua xa và cả những chủ ghe máy đều than như bọng…”
            Dụng cụ rập cua? Đây cũng là một cách sáng tạo của ngư dân vùng ven biển ĐBSCL. Rập cua được làm bằng hai thanh tre buộc xéo nhau thành hình chữ X. Dưới hai thanh tre đã uốn cong là khoảng lưới hình vuông, cạnh khoảng 45 cm và để cái rập cua có đủ sức nặng khi thả chìm xuống đáy sông, người ta buộc thêm hai cục gạch cân bằng ở phía trên cái rập. Chính giữa hai gọng tre là chỗ để móc mồi. Ngư dân ngồi trên xuồng điều khiển (kéo lên, thả xuống) chiếc rập dưới nước nhờ vào một sợi dây buộc chắc vào cái rập. Dấu hiệu của một rập cua vừa được thả xuống đáy sông là một chiếc phao nhỏ nổi lều bều trên mặt nước. Cách bắt cua từ chiếc rập? Thông thường các chú cua túa ra đi tìm mồi, ăn mồi vào lúc con nước vừa đổ lớn và lúc nước vừa giựt ròng bởi vậy, để mai phục chúng, dân ngư chọn lúc nước đứng là thời điểm thả những chiếc rập cua xuống đáy sông. Khi ấy, thật đơn giản, cua ham mồi, vào rập ăn mồi, thì bất thần ngư dân ở trên xuồng giựt mạnh chiếc rập lên. Khi giựt rập lên, cua…giựt mình rơi xuống lưới. Rơi xuống lưới rồi nếu cua vùng vẫy thì càng rối vào lưới …
            “Tại sao rập cua phải là mồi chình?”- tôi hỏi anh Tám. Anh Tám tạc lưỡi: “Nghĩ cũng ngộ, con chình cũng giống như lươn, nhưng mà câu cua bằng mồi lươn thì đố ai câu được. Chúng chẳng bao giờ ăn…mồi lươn. Phải chăng chính mùi tanh của máu con chình là điều quyến rũ chúng(?)”. Đêm đó, anh Tám thả 20 chiếc rập cua, đến khuya, anh lần lượt kéo rập lên bắt gần 4 kg cua trong đó có 2 chú cua gạch điều cân ngoài 1 kg. Cua gạch điều đang có giá gần 200.000 đồng/kg. Như vậy, qua một đêm đi rập, giá chót anh Tám cũng kiếm được khoảng 300.000 đồng. Anh Tám khẽ khàng: “ Đến Tết Trung thu cua gạch điều có khi ngoài 200.000 đồng/kg…”

Đi rập cua

            “Bệnh viện cua”giữa biển
            Ông Nguyễn Văn Hoanh ở Cống Đá, xã An Thạnh, người đã sống với nghề rập cua gần nửa thế kỷ qua tâm sự: “Nghề hạ bạc này thuộc nghề truyền thống, cha truyền con nối, thường tập trung thành một xóm giữa những vùng dân cư sống bằng nhiều nghề khác nhau. Đầu tư cho một xuồng đi rập cua chẳng gì lớn lao: một chiếc xuồng 7 lá mua khoảng 500.000 đồng, 30 cái rập cua tự tạo, chỉ tốn tiền mua lưới; cộng tất cả khoảng 700.000 đồng là có thể…làm nghề. Tuy vậy, do cua biển luôn có giá nên dù làm nghề rập cua trên sông vẫn có thu nhập cao hơn làm ruộng - ông Hai Hoanh tiếp lời - Còn những ai khá hơn thì họ sắm ghe tàu lớn đi rập cua ngoài cửa biển. Đi rập cua ngoài ven biển, nếu may gặp những “bệnh viện cua”ở ngoài đó coi như trúng mánh...” . “Bệnh viện cua” giữa biển?”- tôi thắc mắc hỏi vặn ông Hai Hoanh. Ông Hai cười: “Anh em sống nghề nói vậy cho hình tượng chớ thật ra đó là những hầm cua, tức nơi dưới đáy biển tự nhiên có chỗ có rất nhiều cua tựu lại rồi chúng giành ăn, “giành cái” với nhau, cắn nhau sứt tay gãy gọng nên khi đi rập cua trúng chỗ đó, vui lắm, cứ kéo lên là gặp…cua què (gãy càng). Nhưng nói đó là “bệnh viện cua” xem ra cũng có lý. Phải chăng ở đó là nơi có điều kiện thiên nhiên lý tưởng để cua tề tựu lại sinh sống, dưỡng sức sau cuộc chiến đấu với tình địch nào đó trong thế giới của loài cua(?)”
              Vài năm gần đây, cua con sinh sản trong thiên nhiên xuất hiện nhiều vô số kể ngoài cửa sông Hàm Luông, cửa sông Cổ Chiên rồi cua con theo thủy triều tiến quân vào các sông rạch trong đất liền. Vậy là ngư dân đi rập cua có thêm công việc mới: rập cua con, là cua giống bán cho người nuôi cua. Đi rập bắt cua gạch, cua xô (gọi chung là cua lớn)  từ tháng 7 đến tháng 11 âm lịch còn đi rập bắt cua con là từ sau tháng 11 cho đến ra Giêng. Rập cua lớn, ngư dân dùng mồi chình, rập cua con ngư dân dùng mồi ruốc sống. Một chiếc rập cua con khi kéo lên, cơ man nào là cua, loại cua còn nhỏ cỡ đầu đũa hay cỡ ngón tay út. Cứ đếm từng con mà bán. Con nhỏ cỡ đầu đũa thì 1.000 đồng/con, cỡ ngón tay út 1.500 đồng/con, còn lớn hơn nữa là 2.000 đồng/con…Anh Tư Nghĩa, người đi rập cua sống ở xã Mỹ Hưng, sau một chuyến đi rập, anh xách một thùng thiếc cua con đem bán cho một chủ vuông nuôi cua. Cua nhỏ bò lích nhích, không sao đếm xuễ nên chủ vuông đề nghị mua mão cho anh tất cả là 500.000 đồng. Chẳng do dự chi, anh trao hết cho chủ vuông cua chiếc thùng thiếc và khi vừa nhận tiền xong, anh Tư trở ngay lại với dòng sông để tiếp tục đi rập cua…nhí.
            Đa dạng hóa trong nuôi thủy sản?
            Nuôi tôm sú có lợi nhuận cao nhưng phải đầu tư lớn và lắm rủi ro, không ít người đang lao đao. Hiện nay, khi nuôi tôm vẫn là chuyện bấp bênh nên người dân vùng ven biển trở lại với nuôi cua. Nuôi cua tuy lợi nhuận không cao như nuôi tôm nhưng lợi thế là không phải đầu tư lớn, ngay cả người dân nghèo, có ít đất vẫn tận dụng được để nuôi cua với một ao nhỏ thả nuôi chừng trăm con cua. Vậy là sau bốn, năm tháng, ngày cứ lai rai xách ra chợ xã bán một, hai kg cua cũng dư tiền chợ búa. Đó là chưa kể nuôi cua vỗ béo, nuôi cua tạo gạch với thời gian ngắn nhưng vẫn cho lợi nhuận khá…

          Cua con đang sinh sản nhiều trong thiên nhiên là tín hiệu lành đối với môi trường sống quanh ta và cũng từ nguồn cua giống dồi dào này, hy vọng nghề nuôi cua sẽ được vực dậy để lấp vào khoảng trống ủ rủ của nhiều vùng tôm. Có thể lắm chứ…/


07/10/2013

Hay tin thầy bịnh


            Cựu học sinh

            Trầm tính, uyên bác, sâu lắng, chân thành là những nét hiện hữu nơi thầy Nguyễn Đăng Phu.

Thầy Nguyễn Đăng Phu nay ngoài bảy mươi tuổi. Trước năm 1975, thầy dạy môn Triết, Công dân giáo dục và Văn tại Trường Trung học Công lập Kiến Hòa. Đi dạy học, thầy chạy chiếc Mobilette màu cà phê sữa dợt, dáng người thầy không cao, dạy học, nói chuyện với học trò nhỏ nhẹ mà sấu lắng, nhớ đời. Có những hôm ra lớp trễ, thầy dẫn chiếc Mobilette với trên tay còn dính bụi phấn, đưa tay xuống phía sau yên, bơm xăng cho chiếc xe, tay còn lại nâng gọng kính cận. Thầy dẫn xe ra về phía sau đám học trò xếp hàng thẳng lối. Còn nhớ, thầy thường chọn ngày nghỉ chủ nhật trong tháng, nhắn các học trò thích môn Triết đến sân chùa Bạch Vân (Bình Nguyên, phường 6 bây giờ) nghe thầy giảng bài. Không gian êm đềm, thoải mái nơi đây giúp học trò nhanh chóng tiếp nhận lời thầy giảng. Học trò học môn Triết do thầy dạy, được thầy cho điểm 12/20 trở lên (6/10 bây giờ) là...ngon rồi...Thời đó, hầu hết các học sinh đều biết đến thầy Nguyễn Đăng Phu qua hai câu đối khắc ở cổng trường: Hàm dưỡng nhân luân minh tuấn đức. Hoằng khai khoa học tác tân dân….



            Chúng em hay tin thầy bị tai biến nhẹ trước tết Trung thu 2013, lúc thầy và cô Thu (vợ thầy) sang thăm người con tại Hoa Kỳ.
            Theo thông lệ những năm gần đây, chiều ngày 14 tháng 8 (âm lịch), một số cựu giáo viên và cựu học sinh Trường Trung học Công lập Kiến Hòa thường gom lại rồi sang thăm thầy và cô tại xã Phú An Hòa (Châu Thành, Bến Tre). Tại đây, dưới bầu trời thấp và trong nắng nhẹ buổi chiều, thầy trò lại gặp nhau, ăn bánh Trung thu, uống trà, nói chuyện đến chiều tối mới…tan hàng. Những năm trước, thầy rất khỏe, còn cô luôn đãi các cựu học sinh những món ăn chay rất đặc sắc do chính tay cô làm. Năm 2013, hay tin thầy bịnh, thầy và cô chưa trở lại quê nhà nên chúng em không họp lại để sang Phú An Hòa. Mới đây, nghe tin thầy đã bình phục, chúng em rất mừng và đã nghĩ đến chuyến đi năm sau…


            Còn nhớ, dịp họp mặt cựu giáo viên, học sinh Trường Trung học Công lập Kiến Hòa lần thứ 19 hồi gần tết năm rồi, thầy và cô đã đến quán chay Nhường Trà trước cả tuần lễ. Thầy và cô hỗ trợ vật chất lẫn tinh thần cho buổi họp mặt đó. Thầy và cô đều có viết bài để đăng vào cuốn Hồ Chung Thủy, tập Một. Thầy và cô đại diện cho ngôi trường cũ, đến nhà từng thầy, cô mời các bạn đồng nghiệp tham dự họp mặt. Thầy và cô lại xoay qua việc lo tổ chức nấu ăn miễn phí cho bệnh nhân nghèo tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trần Văn An. Anh Lương Văn Tô My, Trưởng Ban liên lạc cựu giáo viên và học sinh Trường Trung học Công lập Kiến Hòa cho biết cứ mỗi tháng, các cựu học sinh của trường tham gia nấu ăn, cấp thức ăn miễn phí hai ngày cho bệnh nhân ở Bệnh viện Trần Văn An. “Lá lành đùm lá rách”. Đây là nguyện ước mong được thực hiện dài lâu của thầy trò nơi mái trường xưa.

            Các thầy, cô của chúng em nay tuổi đã ngoài bảy mươi, bảy lăm còn chúng em, hầu hết sắp đến tuổi đáo tuế, nhiều bạn đã qua đáo tuế nhiều năm rồi. Thời gian đã làm cho thầy trò dưới mái trường xưa già đi nhưng chúng em cứ hoài vọng thầy trò mình còn trẻ - còn nước, còn tát. Và thầy, cô, học trò cũ sẽ vui vẻ gặp lại nhau trong lần họp mặt thứ 20 vào dịp tết Nguyên đán 2014 này.

Nấu ăn từ thiện cho bệnh nhân bệnh viện Trần Văn An.

05/10/2013

Chợ Ngã năm hồi đó, bây giờ

            Phan Lữ Hoàng Hà

            Năm 1963, gia đình tôi dời về sống ở gần chợ Ngã Năm. Đây là khu nghĩa địa trước đó rất âm u, rồi xe ủi kéo đến giải tỏa, san bằng, sau đó người ta cất lên nhà cửa cho đến nay. Nhà cửa hồi đó hầu hết là nhà trệt, nhà cấp 4, nhưng hiện nay nhà lầu hai, ba tầng, hàng quán san sát. Khu này là giao điểm của một ngã năm với đường vào nhà thương (bệnh viện tỉnh), Thánh thất Cao Đài, đường ra Mỹ Hóa (nay là phường 7), đường ra Chợ Mới (mé sông Bến Tre) và đường trở ngược ra cầu Nhà Thương để vào trung tâm tỉnh lỵ Bến Tre (nay là TP Bến Tre) nên người ta lấy Ngã Năm đặt tên cho chợ. Đây cũng là ngôi chợ “vệ tinh” tại nội ô TP Bến Tre đã ra đời sớm nhất và duy trì, phát triển cho đến hôm nay.
            Ngược dòng thời gian gần 50 năm trước, chợ Ngã Năm khi mới có, đó là chợ chồm hổm với một ngôi nhà lồng nền xi măng, mái lộp tôn, ngang chừng 10 mét, dài chừng 20 mét, tọa lạc ngay vòng xoay ngã năm (phường 5) hiện nay. Sát nhà lồng chợ Ngã Năm là một miếng ruộng bỏ hoang, hôm nào trời mưa, nước ngập lênh láng, đêm đến ếch, nhái, ểnh ươn…đồng cất lên bản hợp xướng dưới mấy bóng đèn điện tròn hiu hắt tỏa màu vàng vọt treo trong nhà lồng chợ, ngoài đường thưa thớt bóng người. Mùa hè, đất ruộng khô, trẻ nhỏ chúng tôi ra đó thả diều. Những cánh diều tuổi thơ thảnh thơi bay lượn trên ngôi nhà lồng chợ…
 Một thời gian rất dài trước năm 1975, chợ Ngã Năm chỉ bán bánh trái, thức ăn điểm tâm như xôi ngọt, bánh mì bì, bánh bao, bánh hỏi, cháo lòng, cà phê, hủ tiếu; một, hai thớt thịt heo…, còn buổi trưa và tối thì rất lèo tèo. Tại ngôi nhà lồng, thỉnh thoảng có đoàn hát bội Chấn Hưng đến hát chừng tuần lễ. Hát bội đi thì có khi là đoàn mô tô bay đến; có đoàn còn mang theo cả…con bò sáu chân để “dụ” con nít mua vé xem, kiếm thêm bạc cắc (hồi này còn xài bạc cắc). Hồi nhỏ, mỗi lần đoàn hát bội đến chợ Ngã Năm hát, bọn con nít chúng tôi dù không có tiền để mua vé vào xem nhưng rất khoái chí, rạo rực, cứ chờ cho đoàn hát chừng nửa tuồng là rình rình vén màn chui vô xem. Có khi, có đứa vừa chui vào thì bị ngay…cây chổi chà quất vào đầu. Song, người soát vé không đuổi đứa nào ra cả, mà nghiêm giọng: “ Tụi bây ngồi coi cho đàng hoàng nghe…”.
            Sau năm 1968, phía đầu nhà lồng chợ ngã Năm có đặt một cái truyền hình trắng đen công cộng. Truyền hình được để trong một cái tủ đóng bằng gỗ, có bốn chân cao cỡ tầm mắt. Mỗi tối, người trực truyền hình đến mở máy cho mọi người xem nhưng thời đó hầu như không ai thích xem thời sự mà chỉ thích xem cải lương. Vậy nên, cứ vào tối thứ bảy trong tuần, người ta tựu lại tại ngôi nhà lồng chợ Ngã Năm khá đông để xem cải lương. Lúc này, gia đình nào khá giả lắm mới có được cái truyền hình trắng đen.
            Sau năm 1975, chợ Ngã Năm được hình thành và phát triển ngày lớn hơn nơi khu đất mà trước kia chúng tôi thả diều. Với địa thế thuận lợi và giá cả bán ra phải chăng, chợ Ngã Năm thu hút khá đông người mua đến từ phường 5, phường 6, phường 7, xã Bình Phú và cả phường 3 dù ở đây rất gần với chợ trung tâm phường 3. Nếu như trước 1975, những món bày bán tại chợ Ngã Năm có thể đếm trên đầu ngón tay thì nay, hàng thực phẩm tươi sống, nông, thủy sản, tạp hóa…có mặt đầy ấp tại chợ, chợ họp từ lúc sáng sớm cho tới chiều tà vẫn còn người ghé mua.

Chợ Ngã năm hôm nay

Hướng về chùa Viên Giác.

            Giữa tháng 8 năm 2010, bộ mặt chợ Ngã Năm có sự thay đổi lớn. Từ nguồn ngân sách dành cho đơn vị, Ban quản lý chợ TP Bến Tre đã đầu tư 285 triệu đồng để xây dựng mới ngôi chợ Ngã Năm với 121 sạp, quầy. Những người có quầy, sạp trong chợ, trung bình mỗi người bỏ ra thêm khoảng 1,5 triệu đồng để dán gạch tráng men trắng cho quầy, sạp của mình trông khang trang, sạch sẽ, ngăn nắp. Cảnh họp chợ ở đây đã có qui củ, nền chợ không còn ẩm thấp, người bán, người mua không còn xô bồ, quá tải như trước đây. Điều nhân dân rất đồng tình là chợ không lấy tên là chợ phường 5, mà là chợ Ngã Năm, như tên của nó đã hiện hữu trên nửa thế kỷ qua.
                                                                                    
                                  Mộc mạc bánh quê
Lê Thị Thặng

Sau một thời gian dài người ta sính với các loại bánh hộp sặc sở, bây giờ, đi đám sang nhất và cũng mang đậm nét văn hóa cổ truyền là để bánh bông lan, bánh thửng trong các quả bánh, như ở các đám giỗ mà có món cơm rượu.


            Mất dần theo thời gian!
Con tôi nay đã tốt nghiệp đại học nhưng có lần tôi hỏi cháu: “Con có  biết bánh vòng là cái bánh gì không?”. Cháu lắc đầu. Tôi giải thích: “ Viết là vòng, nhưng người địa phương gọi là bánh “giồng” hoặc “dòng” – rồi tôi kể tiếp cho cháu nghe – So với các loại bánh như bánh sùng, bánh con sò, bánh bò, da lợn…, bánh vòng là những chiếc bánh đơn sơ, mộc mạc nhất trong các loại bánh ở nông thôn trước thập kỷ 70 của thế kỷ trước. Hồi nhỏ, trước khi đi học, cha và các bác của con thường chạy tới nhà ông Tư Cù ở xóm giồng Mỹ Hóa, mua bánh vòng bỏ theo trong cặp. Bà Tư Cù ngồi chiên bánh vòng dùng đôi đũa tre dài, gắp từng chiếc bánh vòng  tròn vo bằng cổ tay trong chảo dầu sôi ùn ục. Để cho bánh ráo dầu, ông Tư lấy lá chuối hơi héo héo, xé ra làm dây, buột thành từng chùm năm cái. Bánh vòng làm bằng bột nếp pha ít gạo với đường thùng, chiên xong, để nguội, ăn giòn rượm, bắt ghiền…”.
            Hối ấy, buổi sáng, bà ngoại tôi thường sang nhà bà Ba Sang ở kế bên, mua bánh bò cho ông tôi lót lòng trước khi ra đồng. Bà Ba chỉ làm hai loại bánh bò: bánh bò xốp và bánh bò rễ tre. Đó là những chiếc bánh nhỏ hơn cái chén kiểu xưa, màu vàng vì làm bằng đường thùng và ăn với nước cốt dừa sền sệt, béo ngậy. Nhưng để làm ra được những cái bánh bò xốp và nhất là bánh bò rễ tre đặc trưng, đó là bí quyết của bà Ba, và có lẻ bí quyết đó bà cũng mang theo luôn bên mình khi bà mất. Thất truyền!
            Bánh cam, bánh còng thật mộc mạc chân quê, đang cố ráng gượng giữa phố phường đầy ấp bánh kẹo thời thượng. Bánh cam, bánh còng được để trên những chiếc sàn nhỏ bằng tre, các chị đội trên đầu đi bán (ít thấy đàn ông đi bán bánh còng, bánh cam). Hiện giờ, có vẻ như biết thân phận hẩm hiu của mình, các chị thường đi bán hai loại bánh này sâu trong những con hẻm hoặc nơi khu dân cư lao động. Anh bạn tôi, chủ lò kẹo trong một con hẻm phường 4, TP Bến Tre, thốt lên: “Có những chiều mưa vừa tạnh, nghe tiếng rao “bánh cam, bánh còng…”  cất lên tất tả trên con hẻm, âm thanh đó nghe thật não nề”. Thế là anh gọi chị bán bánh ấy lại, mua hết sàn bánh. Buổi chiều, thợ ở lò kẹo của anh đang đói bụng, vậy mà mỗi người chỉ dùng một hai cái bánh là đã thấy …ngán.
            Loại bánh trước đây chỉ thấy ở đám tang, ít ai để bàn mời khách uống nước trà ở những đám tiệc, đó là bánh men. Bánh men giờ gần như không còn nữa. Những đám tang hiện nay nhà nghèo lắm, kẹt lắm cũng vẫn có thể đến tiệm mua bánh đã vào bịch sẳn. Tuy nhiên, làm được bánh men không phải dễ. Bánh này vừa đưa vào miệng là đã…tan trong miệng. Bánh thửng mới thật “cao cường” hơn. Muốn làm được bánh thửng, ngoài nghề cha truyền con nối, người đi học bí quyết làm bánh thửng phải tốn khá nhiều tiền. Anh Diệp Hoàng, bạn học sinh thời trung học Kiến Hòa với tôi, nhớ lại: “ Năm 1980, khi chuẩn bị rời thị xã Bến Tre về quê ở xã Nhuận Phú Tân (Mỏ Cày), tôi đã bỏ ra gần cả năm để học nghề làm bành thửng với số tiền phải trả cho “thầy” là một cây vàng”. Thế nhưng, khi anh về quê mở lò nướng bánh thửng bán cho bà con trong vùng, bánh thửng của anh ra lò thỉnh thoảng vẫn bị chai, sượn. Trong khi đó, để đúng là những chiếc bánh thửng truyền thống, thì bánh phải trắng, các ngấn bánh nở ra, to gần bằng cái miệng tộ (bánh thửng trông cũng giống như cái tộ xưa. Cái tộ khác với tô là ở chỗ phần đáy của tộ nhỏ dần so với cái tô), ăn vừa giòn vừa xốp và dư vị của bánh vương vấn rất lâu nơi nóc giọng. Hiện nay, bánh thửng chỉ thấy nhiều tại các đám giỗ, lễ cưới hỏi ở miền quê.

            Sống mãi với năm tháng

Ăn bánh bò, uống nước trà ở đám quét mộ.

            Chị Võ Thị Hoa, ngụ khóm 3, phường 5, TP Bến Tre, đã đến với gánh bánh mặn từ năm 1975. Mấy mươi năm rồi, hễ khi chiều đến, phố xá sắp lên đèn  là lúc chị Hoa gánh gánh bánh mặn lên vai. Chị đi bán dọc dài trên những hè phố rồi đến trụ lại bên vỉa hè gần ngã tư Ngô Quyền – Cách mạng Tháng 8 (phường 3, TP Bến Tre), bán cho đến lúc nửa đêm. Chị sợ nhất là những tối trời mưa. Trời mưa lớn quá, chịu, chị quải gánh gởi trước nhà ai đó rồi ngóng cổ nhìn mưa, nôm nớp lo cho gánh bánh ế của mình. Còn trời mưa nhỏ, mưa lất phất, chị chẳng ngại chi, cứ che dù mà bán. Chị bán vẫn có đông khách qua đường đến mua…Sở dĩ món bánh mặn của chị được đông khách đến mua vì chị bán chỉ 10.000 đồng/bịch, nhưng trong nhân bánh mặn có tôm khô to gần bằng ngón tay út trộn với củ sắn (sắn miền Nam), trong khi đó, các bạn “đồng nghiệp”của chị thì chỉ sử dụng nhân bánh mặn bằng củ sắn bầm nhuyễn với con ruốc mà thôi. Đó là chưa nói đến phần nước mắm để ăn với bánh mặn. Trải nghiệm mấy mươi năm với gánh bánh mặn, chị Hoa đã pha chế nước mắm thật tuyệt chiêu, càng ăn càng thấy ngon. Đặc biệt, dân nhậu cũng thích món bánh mặn của chị Hoa, vì theo họ, món này bình dân nhưng có mấy con tôm khô coi cũng bắt mắt và nhất là có…chất bột để tráng bụng, nhậu lâu say…Với gánh bánh mặn, chị Hoa đã cất lên ngôi nhà tường tươm tất và cũng từ nguồn thu nhập này đã giúp chị phụng dưỡng bà mẹ già.
            Bánh xèo là món ăn bình dân, lâu đời tại Nam bộ. Bánh xèo hấp dẫn bởi “lực lượng” rau sống thật phong phú để ăn cùng với bánh, nhất là cải bẹ xanh, lá cách, đọt mọt… Thời kinh tế còn khó khăn, nhiều gia đình ở nông thôn làm đám giỗ chỉ đổ bánh xèo đãi khách vì bánh xèo có thể ăn no và nhân của nó (giá hoặc củ sắn, tép, thịt heo ba rọi, núm rơm) vẫn hấp dẫn với vài ly rượu đế. Nhưng bánh xèo lắm khi cũng trở thành món ăn quí phái, cao cấp, nếu nhân bánh được làm bằng núm mối. Hàng năm, sau Tết Đoan Ngọ là mùa núm mối bắt đầu xuất hiện trong những vườn dừa Bến Tre và kéo dài chừng hơn tháng. Núm mối mọc trên đất các gò mối ở Bến Tre (để phân biệt với núm mối ở miền Đông, ăn lạt hơn), ăn ngon ngọt độc đáo, có năm bán trên 300.000 đồng/kg nhưng vẫn không có nhiều núm để mua. Với núm mối, người dân Nam bộ vẫn quen nói là núm mối chớ không gọi là nắm mối, vì theo họ, người ta nói con “chó đái” chớ không hề nói con “chó tiểu”(!).
            Trong làng bánh canh, bình dị, chân quê nhất phải kể đến bánh canh bột xắt. Nếu như bánh canh bột lọc, bột tầm, người ta nấu với thịt vịt, gà, heo, thì riêng bánh canh bột chỉ nấu với thịt vịt, ăn với nước mắm gừng. Bánh canh bột tầm và bột xắt? Cô Bé, người bán bánh canh bột xắt trước đầu hẻm nhà tôi, giải thích: “ Bột tầm là loại bột được ép từ các lò làm bột bánh canh, con bột  bánh canh dài thượt như ta thường thấy. Nấu bánh canh bột tầm, ta cứ ra chợ mua về rồi nấu, nấu lúc nào cũng được. Còn bột xắt, thì người bán bánh canh tự làm tại nhà mình, theo thời gian đã định sẵn. Bột gạo xay ra, bồng bột cho ráo nước, rồi lấy bột đó đấp xung quanh một cái chai bằng thủy tinh, dùng dao xắt từng miếng bột chừng ngón tay út, cho con bột rớt vào nồi nước nấu vịt đang sôi. Muốn cho bột dai, người ta trộn thêm ít bột mì tinh khi nhồi bột…”. Ngày nay, bánh canh bột xắt xem ra vẫn đứng vững giữa chợ đời vì người ta cho rằng, với cách làm bột như vậy sẽ không có chất bảo quản, ăn sẽ an toàn. Còn với các loại bột sản xuất ra hàng loạt, để lâu…không thiu, người ta đã bắt đầu ái ngại!
Những đứa cháu của tôi thỉnh thoảng vẫn về thăm quê bằng xe đời mới. Đi xe đời mới bóng loáng, vậy mà trước khi trở lại TP HCM, chúng vẫn tranh thủ thời gian ghé mua nhiều bịch bánh canh bột xắt của chị Bé. Chúng nói: “Về trễn ăn cho đỡ nhớ quê. Ở TP HCM bao lao quá, muốn ăn bánh canh bột xắt biết đâu mà tìm”.
Tương tự, bánh bông lan dù sản xuất ở nông thôn nhưng xem ra nó vẫn đắc hàng. Nhất nghệ tinh nhất thân vinh. Trong nghề làm bánh bông lan, có thể kể ra như bà Nguyễn Thị Bê (Tư Bê) ở xã An Thuận (Thạnh Phú, Bến Tre). Đã hơn nửa thế kỷ rồi, chất lượng của những chiếc bánh bông lan của gia đình bà làm ra vẫn vậy: bánh bông lan ăn vừa dai vừa giòn tan rất nhanh xuống nóc giọng. Ở quê An Thuận và các xã kế bên, người ta đặt  bánh đi đám, bà Tư làm không xuễ vì nào giờ bà vẫn trung thành và tỉ mỉ làm theo phương thức thủ công với tích lũy kinh nghiệm của mình. Với bánh tráng, bánh phồng cũng vậy, cái Tết Nguyên đán ở đất phương Nam sẽ thiếu vắng vô cùng nếu trên bàn cúng rước ông bà về vui xuân mà không còn thấy hai loại bánh truyền thống này. Những chiếc bánh phồng nếp khi nướng lửa than, bánh nở to, ăn vào đã…ngập hết hàm răng…
                        

01/10/2013

Săn lịch

Huỳnh Thị Kim Anh

Lịch cũ là loại đặc sản miền sông nước, có hương vị độc đáo, quí hiếm nhưng rất xa lạ với dân thị thành…

Lịch cũ xuất khẩu


Vang bóng một thời…
            Lịch cũ sống ở vùng nước lợ, mặn, đặc biệt là trên những bãi bồi, đầm lầy ven biển đồng bằng sông Cửu Long như Gò Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Thạnh Phú ( Bến Tre), Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Ngọc Hiển, Năm Căn (Cà Mau)…Lịch cũ có hình dáng như cá lạc, chình, lươn, rắn, rồng biển (đẻn)…nhưng có màu xám trắng (hoặc xám vàng), sức phát triển to hơn so các loại tương cận trên. Và ngộ thay nó rất hiền, chưa bao giờ nghe nói có người bị lịch cắn cả. Lịch cũ thường làm hang ăn luồn rất sâu xuống bùn và sống tung hoành giữa sông nước. Một ngư dân ở xã Trường Long Hòa ( Duyên Hải) mô tả: “Chặt lìa con lịch cũ thành hai khúc, rồi thảy xuống sông, đố ai dùng tay mò lại được bởi nó chúi rất tài tình…” Nghĩ cũng lạ, không hiểu vì sao người ta vẫn gọi chúng là lịch cũ chứ phải gọi loài này là “lịch chúi” thì đúng với nó hơn.
            Do loài lịch cũ cũng có “chữ tài gắn với chữ tai một vần” như thế, ngư dân đã đặt lưới đáy trên sông, đặt bun trên đầm ruộng và thế là lịch cũ cứ theo dòng triều lớn ròng chui vào. Đối với lịch cũ ở hang, người ta phải dùng cuốc đào hang rồi dùng mũi chĩa tóm lấy chúng. Nhưng công việc này cũng chẳng dễ ăn. Có hang, dân đi săn lịch cũ phải đào sâu 5-7 mét mà vẫn chưa thấy được…đuôi “chàng” lịch.
            Những bãi đất bồi ở vùng cửa biển Ông Trang, mũi Cà Mau (Ngọc Hiển), biển Ba Động (Duyên Hải), xã biển Thừa Đức (Bình Đại, Bến Tre)…được xem là những “thánh địa” của lịch cũ. Nhưng khi được hỏi các bậc cao niên tại địa phương, ai cũng tỏ ra tiếc nuối: “Hồi còn chiến tranh, cứ vào con nước lớn là lịch cũ…trườn vào các đầm, ruộng ta tha hồ mà chĩa, mặc sức mà đặt bun”. Một cụ ở Thừa Đức nói: “Giờ thì giỏi lắm chỉ một phần ngàn hồi đó!”.
            Từ lâu, ngư dân ven biển đồng bằng sông Cửu Long đã phong cho lịch cũ là “lạp xưởng biển” nhằm diễn tả cái ngon, cái quí hiếm độc nhất vô nhị của chúng. Khi bắt được lịch cũ, ngư dân thường giữ lại, đem về phơi khô chừng hai nắng, đem nướng, hoặc chiên. Bên chung rượu nếp, họ cứ “khà khà” tận hưởng cái hương vị đặc biệt thơm ngon và béo ngầy ngậy của thịt lịch cũ.

Lịch cũ sống phát triển nơi đầm lầy, rừng ngập mặn

            Cái hương vị đồng quê ấy, trước năm 2000, từ từ lùi vào dĩ vãng vì giá lịch  cũ có lúc lên đến 300.000 đồng/kg. Nếu ngư dân nhịn đừng ăn 1 kg lịch cũ thì sẽ có được 2 – 3 kg thịt bò mua tại chợ xã (thời điểm năm 2000).
            Chị Ánh, một chủ vựa thu mua lịch cũ xuất khẩu tại thị trấn Thạnh Phú (Bến Tre) cho biết: “Trong năm, cơn sốt lịch cũ bắt đầu nóng lên dần từ sau Noel cho đến tháng 5, tháng 6. Hiện thời, lịch cũ loại “vào loại” tôi thu mua 400.000 đồng/kg, có khi hiếm hàng…phóng giá 450.000 - 500.000 đồng/kg luôn…”. Hãy hình dung cái giá thu mua lịch cũ như sau: hiện giá 1 kg tôm sú loại 1 khoảng 200.000 đồng, cua gạch điều trên dưới 180.000 đồng, còn lịch cũ… Chị Ánh bật mí: “Ở TP HCM, người ta thu mua lịch cũ sống xuất sang Trung Quốc, Đài Loan…để làm thuốc. Lịch cũ được xem như một loại sâm biển tuyệt vời, quí hiếm hơn cả chình. Thưởng thức món đặc sản này sẽ có sức khỏe vô song”.
Hiếm có loại thủy sản nào luôn có giá cao vút như lịch cũ với 500.000 đồng/kg nhưng nó có vẻ biệt tăm chừng mười năm qua. Giải thích vì sao lịch cũ biệt tăm, những người dân địa phương cho rằng nhà nhà làm ao nuôi tôm, rừng bị tàn phá, môi trường đầm lầy không còn nữa, trên đồng ruộng thì người ta phun xịt thuốc trừ sâu liên miên nên lịch cũ chạy xa…trối chết. Tôi ngầm hiểu khi cánh cửa rừng ngập mặn xưa cứ thu hẹp lại dần vì cuộc kiếm sống trước mắt thì số phận của loài lịch cũ đang có giá ngoài thị trường kia cũng chẳng khác hơn.

            Hồi sinh?
             Những người đi ghe cào, đóng đáy trên sông Băng Cung (xã Mỹ An, xã An Thạnh, Thạnh Phú, gần sông Hàm Luông) cho biết con nước rằm (15 âl) hoặc 30 hiện nay ngư dân bắt được rất nhiều lịch cũ còn nhỏ, con cỡ chừng ngón tay cái. Họ đem lên các chợ xã cân ký bán, chỉ 30.000 - 40.000 đồng/kg. Các lão ngư dân tiếc hùi hụi còn những người biết hương vị đặc sắc của lịch cũ, họ tranh nhau mua về xẻ khô, phơi vài nắng, nướng hoặc chiên để…ăn cơm. Họ thì thào: “Loại này, chỉ những người có tiền mới có khả năng ăn nổi. Sản phẩm của quê mình, mình ăn cho…sướng. Có điều mình chỉ thưởng thức con…nhỏ nhỏ thôi”. “Lạp xưởng biển” tuy còn nhỏ nhưng ăn vẫn giòn rựm, béo ngậy và đặc biệt khi trở chảo khỏi cần dầu mỡ.
Theo “qui định” của các điểm thu mua lịch cũ đang giăng ở khắp vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long, một con lịch phải cân nặng từ 1 kg trở lên, con lịch không bị trầy sướt mới gọi là “vào loại”, tức mới được thu mua với giá cao 400.000 -500.000 đồng/kg. Còn dưới 1 kg, họ chỉ mua bằng giá lươn, cá lạc để bán cho các nhà hàng nội địa làm món nhậu chơi. Trong thực tế, bắt được lịch cũ loại ngoài 1 kg là không dễ. Tôi hỏi anh Năm Lập, quê xã An Thạnh, huyện Thạnh Phú: “Sao không làm vuông nuôi lịch cũ như lươn, một vốn mười lời?”. Năm Lập nói: “Chỉ nuôi vỗ béo những con đã đủ ký nhưng yếu sức, nuôi dưỡng một thời gian ngắn là bán ngay. Mà nghe nói cũng không ai làm vuông nuôi được loại này. Nhiều người thấy mê quá, làm đại ao nuôi như nuôi cua, nuôi lươn… nhưng rồi không kết quả. Nuôi nó lâu lớn, nó ốm tong ốm teo hoặc chúng chúi đi đâu mất dạng như ma”.

Lịch cũ tái xuất giang hồ cho thấy rừng ngập mặn ven biển đồng bằng sông Cửu Long đang nở rộng, môi trường thiên nhiên dần được hàn gắn. Thế thì, lịch cũ lại tung hoành trên sông nước, biến nhanh nơi những bãi bồi, đầm lầy hoang vu. Cơn sốt lịch cũ lại tiếp diễn.

Khô lịch cũ phơi vài nắng.