02/09/2013

            Viết ngắn

Đi học về…
            Sáu Quang

Những mùa xuân đi qua.


            Nhà tôi cả thảy mười anh chị em. Ba tôi là thầy giáo, má tôi sáng sớm bánh xôi để kiếm thêm cho mỗi đứa gói xôi lót lòng. Má tôi không đi dạy học nhưng khi bán hết xôi, lúc xách chiếc thau không về nhà, nhiều người gặp má tôi vẫn chào:”Bà giáo”. Có người còn “thưa”:”Bà giáo đi chợ mới về…”.

            Vừa về đến nhà là má tôi lo nấu cơm trưa cho chúng tôi. Buổi trưa, đứa em út đi học về vừa bỏ chiếc xe đạp bên gốc cây trứng cá, liền chạy thẳng đến garde - manger, mở tủ ra, la lớn: “Má ơi…hết đồ ăn cho con rồi!”. Rồi đứa trẻ học sinh thông minh này ngồi ăn cơm với nước mắm, có giọt nước mắt rơi rơi. Má tôi ngồi bên cạnh hiểu rằng hôm nay nhà có ít quá thức ăn, vả lại các con về nhà giờ giấc không chính xác, đứa lớn, đứa nhỏ về trước sau không biết chứ các anh chị không giành ăn với con đâu. Thông thường, ở nhà tôi, ai về trước thì vẽ một khúc cá ăn, nhiều khi để trọn cho em một khứa cá kho y nguyên đến chiều.

31/08/2013

            Viết ngắn
            Thời gian mỏng manh

        Sáu Quang


            Từ lâu, má sáu Quang sống nghề làm ruộng. Đôi tay bà gầy guộc nhưng hàng ngày bà vẫn lặng lẽ ra đồng để lo cho đàn con.

           Hay tin má sáu Quang bịnh nặng. Một chiều, mợ hai Tố, dì ba Rẫy chống gậy đến thăm má sáu Quang. Khi hai bà đến, mới hay sáu Quang vừa chuyển má của mình lên Sài Gòn trị bịnh tiếp. Hai bà lẳng lặng quay về với hai chiếc gậy gầy khô. Ngôi nhà sáu Quang chìm sâu trong vắng lặng. Rồi năm năm sau, dù cố níu kéo thời gian nhưng cả ba bà già đều khuất. Khi khuất, ba người chôn ba nơi. Từ đó không còn mùi hương đồng nội và làn hơi ấm phảng phất từ ba bà già. Ôi buồn..!

29/08/2013

Một chuyến du lịch bãi biển

Huỳnh Thanh Quang

            Chuyến du lịch trong ngày về bãi biển Hàng Dương (xã Thạnh Hải, Thạnh Phú, Bến Tre) do thầy Trương Thọ Lương làm trưởng đoàn. Trên xe có 30 người, trong đó hầu hết là các cựu học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa.

            Về quê biển
            Từ thành phố Bến Tre, xe chạy chừng 30 phút đã qua khỏi thị trấn Mỏ Cày Nam. Chúng tôi dừng lại điểm tâm tại quán cháo lòng Bảy Nhạn, bên trái quốc lộ 57. Cháo lòng ở đây 25.000 đồng một tô, nấu rất ngon. Trong quán có trên 20 bàn thì sáng nay, hầu hết những người khách ngồi đây đang chuẩn bị đi Thạnh Hải. Quán đông vui, tấp nập…
Trước năm 1975, Thạnh Hải thuộc xã Thạnh Phong (huyệnThạnh Phú, Bến Tre) – đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam. Vùng đất ven biển Đông này cách thành phố Bến Tre khoảng 70 km. Cô bạn đi cùng hỏi tôi: “Thạnh Hải có những bãi biển nghe nói êm đềm, hoang vu nhưng tại sao phải hơn ba chục năm sau 1975, du khách mới đến nhiều với Thạnh Hải?. Đáp: “Trước năm 2000, đường sá về vùng ven biển này rất bầm dập, đường sâu vào xã là những con lộ giồng cát bỏng, xe đạp chạy đã…lún bánh xe cùng xa xa là những ngôi nhà lá đơn sơ, rất nghèo…”.
Xe đến ngã ba Thạnh Hải - Thạnh Phong
Bãi biển Hàng Dương (Thạnh Hải)

            Giờ đây, từ thành phố Bến Tre, du khách lên xe du lịch và chừng sau hai tiếng đồng hồ là có thể đến được Thạnh Hải. Tại đây, bộ mặt xã hội đã thay đổi rất nhiều, hai bên đường có rất nhiều ngôi nhà tường cấp 4 trở lên với trên nóc nhà có chảo thu sóng truyền hình Vinasat. Những địa danh một thời rất bí mật, hoang vu trước năm 1975 lần được… bật mí, trong đó phải kể đến dự án “ Đường cồn Rừng” dẫn vào Hồ Cỏ - trung tâm của Thạnh Hải – đã được tỉnh Bến Tre đầu tư xây dựng khang trang và đường ra cồn Tra, cồn Bững – nơi đang có hai tụ điểm du lịch biển là Tây Đô và Hàng Dương của Thạnh Hải – tuy đường hẹp hơn nhưng cũng đã được tỉnh đầu tư xây dựng thông thoáng đến sát biển.
            Tôi trở lại Thạnh Hải vào cuối tháng 8-2013. Dưới ánh nắng chói chang và biển cả mênh mông, có trên 1000 du khách đã đến đây còn nơi giữ xe trên bãi biển, xe hai bánh, bốn bánh gởi xe san sát nhau, chật ních. Số người nói trên so với một xã heo hút như Thạnh Hải quả thật đông đúc, xôn xao. Tôi sáp vào một bàn có nhiều người bạn quen đang ngồi tại bãi biển Hàng Dương.  Làm vài ba ly rồi tôi mới từ từ hỏi:”…Động cơ nào thúc đẩy mấy bạn đến đây?”.  Đáp gọn hơ: “Ngồi nhậu mát, mồi là đặc sản biển nhưng rẻ”.  Một ông bạn ngồi kế bên tôi thì nói “sâu sâu” hơn: “Dù là thành phố trẻ Bến Tre nhưng giờ dân số cũng quá đông rồi, ồn ào lắm. Về đây, ngồi ngóng biển, nhậu chơi rồi chiều chiều, thông thả trở về. Đi một mạch xe đã qua cầu Hàm Luông”.
Theo chương trình, xe chúng tôi phải về lúc 13 giờ nên anh tài xế phải chạy ra chạy vào, thương lượng với các tài xế bạn để được de đầu xe ra trước mà cũng thật khó khăn, chiếc bốn bánh của chúng tôi mới lăn bánh được. Trong lúc chờ xe ra, tôi càng bất ngờ khi thấy bên cạnh có rất nhiều xe mang biển số 50…, tức từ thành phố Hồ Chí Minh xuống đây. Lúc đó, trong tai tôi vẫn nhớ mang máng  lời của một du khách: “Đi không xa lắm nhưng vẫn có thể thấy biển. Ở đây không bị “chặt chém” quá mức như mấy chỗ khác. Tại đây cũng không có muỗi, nước không tanh mùi bùn như nhiều bãi biển khác tại ven biển đồng bằng sông Cửu Long”. Ừ, ra vậy nhưng thu hút được khách về đây, công lớn thuộc hệ thống giao thông nông thôn liền mạch tại Bến Tre.

Để giữ mãi dòng du khách?
Bãi Tây Đô bên cạnh bãi Hàng Dương do một tư nhân đầu tư xây dựng nên việc đón khách đến đây tương đối ổn định. Còn bãi Hàng dương, nơi khách đến đông hơn thì thấy nhuếch nhác, lộn xộn như cái chợ bán hàng thủy sản ven biển Đông. Tại đây, ngoài một số dù che trông khá hiện đại, số vị trí còn lại là tự phát với những tấm vải mủ được căn lên, san sát nhau. Dưới những bóng mát đó, người ta bán nghêu, sò, ốc các loại, ghẹ, tôm, cua, mực tươi…Cứ mua hàng thủy sản rồi nhờ người bán nấu nướng, trả tiền công cho họ (vài chục ngàn đồng) và ngồi ăn, uống nơi gần đó. Cụ thể, cua gạch chế biến rồi 200.000 đồng/kg, nghêu 25-30.000 đồng/kg… Hầu hết những người bán hàng thủy sản hoặc dịch vụ ăn uống tại đây là dân địa phương, tính tình chân chất, thưa thưa, dạ dạ nhưng đều thiếu kỹ năng giao tiếp khách du lịch. Tại các hàng quán “dã chiến” kia, chốc chốc rác thải rơi rớt, vương vải tứ tung. Cảnh tượng càng xốn mắt hơn khi thấy rất nhiều xe gắn máy, không gởi xe nơi điểm giữ xe, chạy càn xuống bãi biển, tiếng máy xe in ỏi, bịu cát tung bay. Và đặc biệt tại Hàng Dương là thiếu…nhà vệ sinh, vấn đề này rất kẹt cho phái nữ!
Chủ tịch UBND huyện Thạnh Phú Phạm Minh Cảnh (bìa trái) tiếp đoàn
Các cựu học sinh Trường THCL Kiến Hòa tại bãi Hàng Dương

Mang những trăn trở trên, tôi đã gặp ông Trần Duy Phương, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bến Tre (ông Phương phụ trách du lịch). Ông Phương cho biết: “Hiện nay, điểm du lịch hấp dẫn nói trên thuộc phần đất rừng phòng hộ do Sở Nông nghiệp và PTNN tỉnh quản lý nhưng do các dịch vụ đón khách du lịch tại đây tự phát, phát triển quá nhanh nên các ngành đã ngồi lại tính toán để đáp ứng nhanh sự phát triển đó. Vì cơ sở hạ tầng còn hạn chế, nên đến nay ngành du lịch tỉnh vẫn chưa đưa du khách lữ hành đến đây. Tuy nhiên, trước bước phát triển quá nhanh này, các ngành tỉnh đã vào cuộc như mới đây Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bến Tre đã đến địa phương hướng dẫn lập đội bảo vệ, tập huấn cho bà con những kỹ năng tối thiểu để tiếp khách du lịch và nhất là vấn đề xử lý rác thải. Bên cạnh, ngành giao thông sẽ mở những điểm thoát trên đường vì đường vào đây hẹp (xe bốn bánh gần như chỉ chạy được một làn xe ra hoặc vào), mở rộng bãi giữ xe, tôn tạo lăng Ông tại cồn Bững để tạo thêm điểm tham quan cho khách…; còn ngoài biển, ngành có liên quan sẽ cắm biển báo hiệu, lập đội cứu hộ để giữ an toàn cho khách…”. Tôi hỏi anh Cao Thành Văn, bạn đi cùng: “Theo anh, để thu hút khách đến đây, Thạnh Hải phải làm gì?”. Anh nói rằng trước hết ở đây không nên “làm cao”, thuận mua vừa bán và nhất là vấn đề vệ sinh nói chung”.

Cầu Ván đang khẩn trương xây dựng.


Mặt khác, đường về Thạnh Hải còn phải qua sông Cầu Ván, rộng hơn 200 mét (hiện qua sông bằng phà kéo). Chiếc cầu này đang khẩn trương thi công, dự kiến giữa năm 2014 sẽ hoàn thành. Qua Cầu Ván, trước khi đến Thạnh Hải là đoạn cuối quốc lộ 57(dài khoảng 10 km, đến Thạnh Hải khoảng 3 km) với đường sá lam nham, xe chạy dằn vật. Vì vậy, Bến Tre đã kiến nghị trung ương cấp vốn để đoạn cuối quốc lộ này được nâng cấp hoàn chỉnh sau khi Thạnh Phú có Cầu Ván.

26/08/2013



            Cựu học sinh Mỏ Cày tiếp sức học sinh nghèo đến trường

            Ngày 25/8, các cựu học sinh Trường Phổ thông trung học Mỏ Cày khóa 1984 kết hợp với các cựu giáo viên, các thành viên của Câu lạc bộ Doanh nhân Sài Gòn, các y bác sĩ hiện sinh sống, công tác, kinh doanh tại TP HCM về phát học phẩm, khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho các học sinh nghèo huyện Mỏ Cày Nam tại Trường THCS thị trấn 2. Ông Trần Anh Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre cùng nhiều quan khách, các cựu giáo viên, cựu học sinh Trường Phổ thông trung học Mỏ Cày đến dự.
Các cựu giáo viên Trường Phổ thông trung học Mỏ Cày chụp hình lưu niệm
Ông Trần Anh Tuấn (bìa trái) trò chuyện với các giáo viên
Ông Trần Anh Tuấn (trái) và thầy Trương Thọ Lương, cựu giáo viên Trường PTTH Mỏ Cày

            Chương trình Đáp đền tiếp nối – Tiếp sức học sinh đến trường năm 2013, phát 400 phần học phẩm và khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho các học sinh thuộc 7 trường THCS (Thị trấn 1, Thị trấn 2, An Thạnh, Khánh Thạnh Tân, Đồng Khởi, Thành Thới A, Minh Đức) và Trường Tiểu học  An Thạnh 1 tại huyện Mỏ Cày Nam, tổng trị giá 120 triệu đồng.
            Thầy Lê Văn Phúc, nguyên Hiệu Phó Trường Phổ thông trung học huyện Mỏ Cày đã ôn lại kỷ niệm những ngày đầu gian khó của thầy cô và học trò khi trường vừa thành lập. Thầy Phúc chúc mừng các học sinh đã xuất thân từ trường, tiếp tục học tập và sau đó công tác tại nhiều ngành, lãnh vực xã hội, đã đem vốn kiến thức của mình cống hiến cho xã hội, quê hương và nhất là luôn tiếp sức cho học sinh thế hệ đàn em tại huyện nhà.
 Cô Bích Dung, trưởng điều hành chương trình nói: “Đây là chương trình nhằm động viên, khuyến kích hỗ trợ các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn vươn lên trong cuộc sống và học tập, trong sự che chở và yêu thương của những nhà hảo tâm, những tấm lòng vàng nhằm chung tay mang đến cho những học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn có thêm niềm hạnh phúc, có thêm nghị lực khi được quan tâm chia sẻ”.

                                                                                                                            PLHH
Ông Trần Anh Tuấn (giữa) và thầy Nguyễn Hữu Huệ phát học phẩm cho học sinh
Phát thuốc miễn phí cho học sinh huyện Mỏ Cày Nam
Chữa răng cho học sinh.

16/08/2013

Giải thưởng Trương Vĩnh Ký: Chung sức vun bồi nhân tài Bến Tre


            Huỳnh Vĩnh Lộc

          Đạt giải thưởng Trương Vĩnh Ký lần thứ IX, năm học 2012-2013 hầu hết là các học sinh đang học tập tại “lò” Trường THPT Chuyên Bến Tre.

            Ngày 15/8, Sở Giáo dục và Đào tạo Bến Tre, Hội Khuyến học tỉnh tổ chức lễ trao giải thưởng Trương Vĩnh Ký lần thứ IX, năm học 2012-2013. Đến dự có ông Nguyễn Quốc Bảo, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Bến Tre, ông Võ Thành Hạo, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Ông Trương Văn Nghĩa, Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh…cùng nhiều quan khách, các học sinh đạt giải thưởng Trương Vĩnh Ký.
            Giải thưởng mang tên nhà bác học Trương Vĩnh Ký do Hội Khuyến học tỉnh khởi xướng và được UBND tỉnh Bến Tre công nhận từ năm 2004 đến nay đã qua 9 lần trao giải. Đối tượng được trao giải là những học sinh trung học phổ thông, trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh có hạnh kiểm tốt, đạt thành tích xuất sắc trong các kỳ thi: Huy chương các kỳ thi quốc tế, học sinh giỏi lớp 12 trung học phổ thông cấp quốc gia, tuyển sinh vào đại học các trường công lập hệ chính qui, tốt nghiệp trung học phổ thông, giải toán trên máy tính Casio, sáng tạo khoa học kỹ thuật, tiếng Anh trên Internet, giải toán trên Intenet, học sinh giỏi đồng bằng sông Cửu Long, Olympic truyền thống 30/4.
Bà Đặng Thị Hoa, Chủ tịch Hội Khuyến học Bến Tre
Các học sinh Trường THPT Chuyên Bến Tre đạt giải thưởng Trương Vĩnh Ký
Học sinh Phan Thị Thanh Vy (giải nhất) và Ngô Công Thành (giải nhì)
Các học sinh tại Bến Tre đạt giải Trương Vĩnh Ký

            Giải thưởng Trương Vĩnh Ký lần IX trao cho 90 học sinh với tổng số tiền 440 triệu đồng.
            Giải hạng nhất (10 triệu đồng) thưởng cho học sinh giỏi cấp quốc gia đạt hạng nhất, học sinh đạt huy chương vàng, bạc, đồng hoặc giải nhất, nhì, ba các kỳ thi quốc tế, học sinh đạt thủ khoa kỳ thi đại học (xét theo khối thi). Học sinh Phan Thị Thanh Vy, lớp 12 chuyên hóa Trường THPT Chuyên Bến Tre thi vào ngành công nghệ sinh học đạt điểm 27,5, đạt giải nhất.
            Giải nhì ( 8 triệu đống) thưởng cho các học sinh giỏi cấp quốc gia đạt giải nhì, học sinh đạt thủ khoa của tỉnh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, học sinh đạt Á khoa của kỳ thi tuyển sinh đại học, học sinh đậu thủ khoa của các trường đại học công lập hệ chính qui (xét theo khối thi).
            Giải ba ( 6 triệu đồng) thưởng cho các học sinh giỏi cấp quốc gia đạt giải ba, học sinh đậu thủ khoa cấp huyện trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, học sinh đạt huy chương vàng kỳ thi Olympic truyền thống 30/4, học sinh giỏi đồng bằng sông Cửu Long, học sinh đạt huy chương vàng hoặc giải nhất cấp quốc gia các kỳ thi trên máy tính Casio, sáng tạo khoa học kỹ thuật.
            Giải tư ( 4 triệu đồng) thưởng cho các học sinh giỏi cấp quốc gia đạt giải khuyến khích, học sinh đạt thủ khoa trường trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, học sinh đạt huy chương bạc kỳ thi Olympic truyền thống 30/4, học sinh đạt huy chương bạc hoặc hạng nhì kỳ thi giải toán trên máy tính Casio, sáng tạo khoa học kỹ thuật, học sinh đạt huy chương vàng giải toán, tiếng Anh trên Internet.
            Nhiều cơ quan, công ty, doanh nghiệp và cá nhân trong và ngoài tỉnh đã thường xuyên tài trợ cho giải thưởng danh giá này, trong đó nhà tài trợ chính là Công ty TNHH Một thành viên Xổ số Kiến thiết Bến Tre.
            Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trương Văn Nghĩa, thay mặt UBND tỉnh ghi nhận mọi nỗ lực vượt bậc của các học sinh đạt giải. Ông Nghĩa nhấn mạnh: Cả nước nói chung và riêng Bến Tre, rất kỳ vọng vào sự cố gắng học tập của các học sinh để mai này đem vốn kiến thức của mình phục vụ xã hội. Bến Tre còn nhiều khó khăn nhưng việc vun bồi nhân tài tại quê hương là một trong những mục tiêu được Tỉnh ủy, UBND tỉnh quan tâm hàng đầu.
            Bà Đặng Thị Hoa, Chủ tịch Hội Khuyến học Bến Tre thay mặt ban tổ chức, Hội Khuyến học tỉnh, các học sinh đạt giải thưởng Trương Vĩnh Ký…xin chân thành cảm ơn quí lãnh đạo công ty, đơn vị, cá nhân và nhất là Công ty TNHH Một thành viên Xổ số Kiến thiết Bến Tre đã đồng hành cho giải 3 năm liền, xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến tất cả những tấm lòng nhân ái đã chung tay góp sức, chia sẻ cùng Hội Khuyến học tỉnh để chăm lo cho thế hệ tương lai của đất nước, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Trao học bổng cho các học sinh
Trao xe đạp cho 20 em học sinh.


            Dịp này, Hội Khuyến học tỉnh đã trao 180 suất học bổng Hồ Hảo Hớn lần thứ V với mỗi suất 2 triệu đồng do Công ty TNHH Một thành viên Xổ số Kiến thiết Bến Tre tài trợ và 20 chiếc xe đạp, mỗi xe trị giá 2 triệu đồng do Hội tương tế nghĩa trang liệt sĩ Bến Tre tại Bình Dương tài trợ.

14/07/2013

Đám giỗ nhà quê
            Phan Lữ Hoàng Hà

            Miếng giồng cát phía trước nhà bà tôi có trồng nhiều cây mãng cầu ta. Mãng cầu ta có hai loại là mãng cầu bở và mãng cầu dai. Trên một giồng cát, mãng cầu dai thường có ít hơn mãng cầu bở nên khi hái trái đem chợ bán, mãng cầu dai có giá hơn. Điều ngộ nghĩnh của cây mãng cầu là lúc trời nắng như đổ lửa, mọi thứ cây khác đều héo úa, xơ xác thì vào khoảng tháng 3 âm lịch, cây mãng cầu thay lá xanh um, thời điểm báo hiệu mùa mưa sắp đến. Khi trời sa mưa, cây mãng cầu lần lượt trổ bông thật sung rồi kết trái, kéo dài cho đến gần Tết Nguyên đán. Mãng cầu ta lúc này là loại trái cây tương đối sang vì ngoài chợ đâu có nhiều loại trái cây Tây Tàu như bây giờ.


            Đi thăm trái rồi hái trái mãng cầu thuộc kinh nghiệm dân gian. Thường thăm vào buổi sáng hoặc buổi chiều, tức có khoảng cách thời gian mới thăm một lần. Đến một gốc mãng cầu, nhìn lên, thấy trái nào nở gai to, ta đưa cây sào lên trái và gõ vào đó vài cái. Cứ nghe bịch, bịch, có cảm giác trái hơi mềm, là trái sắp chín còn nghe cưng, cưng, tức  trái còn cứng thì để thêm vài ngày nữa. Lúc đến hàng mãng cầu giáp ranh đất với người hàng xóm, thấy có hai bụi bông điệp, một bụi bông điệp đỏ và một bụi bông điệp vàng, mọc vượt cao trên đám cỏ um tùm, sóng sượt, tôi hỏi bà tôi: “Mấy cây bông điệp này mọc hoang hay hồi trước bà trồng?”. Bà tôi nói do bà trồng, để dành, vì trong năm ở nhà có nhiều đám giỗ. Mà không phải đến dịp đám giỗ mới bẻ bông điệp chưng bàn thờ, những rằm lớn trong năm, tôi vẫn thấy bà tôi chưng bông điệp lẫn bông trang đỏ trên bàn thờ Phật và ba bàn thờ tổ tiên, ông bà ở phía dưới. Mùi nhang và mùi hương bông điệp thoang thoảng suốt ngày, nhất là vào ban đêm. Còn mãng cầu ta chưng trên bàn thờ là thứ trái cây đặc sản.
            Đám giỗ là dịp con cháu tựu về. Tôi thích nhất là có đám giỗ lúc trời vừa mưa vài đám, đất, cỏ còn bốc mùi ngai ngái cùng tiếng côn trùng tranh nhau cất tiếng về đêm. Lại có tiếng dế mèn thao thức trong đêm khuya khoắt. Tiếng con vạc sành réo rắt bên vạc gài (nẹp tre đươn lại, kết thành một miếng vách) hồi đầu hôm.
            Đám giỗ diễn ra trong thời điểm này cho tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Buổi sáng, mấy đứa nhỏ tụi tôi đi bẻ bông điệp, bông trang ở ngoài giồng đem vô cho người lớn chuẩn bị chưng bông vào lục bình. Nơi bàn thờ giữa là một lục bình lớn, hai bàn thờ hai bên là hai lục bình nhỏ hơn nhưng bằng nhau. Sau đó, tụi tôi theo người lớn, chia nhau đi mượn bàn ghế. Trưa ăn bánh ít do bà tôi gói nóng hổi, còn bốc khói. Lúc chiều chiều ông tôi chuẩn bị dầu lửa, Alcol rồi đốt thử cái đèn măng sông. Thoát ra từ ánh sáng đèn măng sông còn tỏa ra làn khói đen là tiếng kêu khè khè, ban đầu dồn dập rồi lần lần ánh sáng như ngả màu xanh, trong veo trong vắt. Dù đốt thử nhưng chúng tôi tặc lưỡi xuýt xoa vì trong năm ngày tư ngày tết ông tôi mới đốt đèn măng sông một lần. Khi trời chạng vạng tối, chúng tôi lấy cứt bò cứt trâu khô…un bù rầy. Khi khói un bốc lên, mùi bay xa, đám bù rầy lần lượt lao đến, xòe xòe sà cánh xuống gần khói un. Người lớn thì dùng chà cây trăm bầu huơ bù rầy, đám nhỏ tụi tôi dùng chổi tàu cau nhưng huơ cũng ít khi trúng chúng, có lẽ vì chổi thấp hơn. Đêm đến, nơi hàng ba, chúng tôi chia nhau làm hai phe, lấy ghế đẩu chất cao làm đồn phòng thủ. Bên này bắn qua bên kia bằng dây thun với bì giấy chứ không dám nghĩ tới bắn bì bằng bì u du hay cốc kèn vì hồi nhỏ nghe mấy anh tuổi lớn hù: u du mà ngăm vào nước đái, bắn trúng vào da là…thúi thịt!


            Nhưng ấn tượng nhất là khi đi mượn bàn ghế vòng vòng trong xóm. Đến một ngôi nhà nào đó, cứ nói: “ Tôi là cháu của ông Năm…ngày mai ở nhà có đám giỗ…” thì chủ nhà vui vẻ cho mượn ngay dù hầu hết mọi nhà đều chỉ có một cái bàn tròn và dăm ba chiếc ghế đẩu để ăn cơm. Rất nhanh, cứ lật ngược bàn, ghế lên rồi ghi tên hay đánh dấu bằng phấn trắng, xỏ xâu ghế vào cây tre hoặc vác chồng lên nhau năm, bảy chiếc ghế khiêng về. Cũng giống như tại nhà ông bà tôi, sau khi cho nhà khác mượn bàn ghế xong, vài buổi cơm sau đó người nhà phải dọn ra ăn cơm trên bộ ván hoặc xúc một tô ra phía trước nhà ngồi ăn nhưng không buồn bực gì. Hồi đó đâu có dịch vụ cho mướn bàn, ghế như bây giờ…
            Lúc này, nước đá rất hiếm, thường không mua được. Muốn mua nước đá phải đi xa cả cây số, phải mua từ một góc tư trở lên, nước đá vùi trong trấu và quấn thêm bên ngoài miếng lá chuối nhưng đem về đến nhà thì nước đá tan nhiều.
Những lão nông đi đám giỗ khá sớm, các ông thường mặc áo bà ba trắng, chỉ vài người mặc áo dài đen. Người ta nói những ông mặc áo dài đen là đang có chức sắc trong đình, miễu. Những ông đó đến đám giỗ thường xách theo cái giỏ (bằng tre trúc hoặc bằng mủ) với năm, bảy chai nước ngọt trong đó, chứ không kết này, thùng nọ như bây giờ. Nước ngọt chung qui có hai hiệu: Con Cọp và Phương Toàn (con nai). Về Con Cọp có: xá xị, nước cam, Limonade (nước màu trắng) và bạc hà (nước màu xanh). Có người mua chỉ một thứ nước ngọt là xá xị hoặc nước cam. Có người chịu khó hơn, chắc để cho thêm…sinh động, họ mua ở tiệm hai chai xá xị, hai chai nước cam, hai chai Limonade và duy nhất chỉ một chai bạc hà. Đám nhỏ tụi tôi vẫn thích nhất chai bạc hà. Tôi liên tưởng với ý muốn: “Phải chi mấy ông cụ này đem đến các chai nước ngọt hồi hôm, ta bỏ vào lu nước, chắc trưa lại, nó cũng hơi lạnh lạnh như có nước đá”. Rồi, nghĩ ngợi lung tung: “ Không biết ngày xưa, khi chưa có nước đá, mấy ông vua dự yến tiệc, nhắp nhiều rượu rồi sẽ giải nhiệt bằng thứ nước giải khát gì? Nước đá giải nhiệt nhanh nhưng chưa chắc bằng…nước nhãn nhục, sâm nhung…”, tôi suy diễn tiếp. Và tại đám giỗ, chủ lực vẫn là món hủ tiếu xào với giá, hẹ. Trong đám giỗ người rất đông, ồn ào nhưng ngoài sân nhà rất rộng thoáng, chỉ thấy vài chiếc xe đạp, chắc chủ nhân của nó ở xa lắm, đến viếng người thân. Còn hiện nay, mỗi người một chiếc Honda. Nhà có tổ chức đám này đám nọ mà không có sân cho khách để xe, vất vả lắm. Và đặc biệt nhất là, ai cũng nấn níu chờ để lấy…vỏ chai vì đã thế chân ở tiệm…

            Giờ đây hoa, trái bóng loáng, rực rỡ tràn ngập ngoài chợ đã đẩy lùi những trái mãng cầu ta, những nhánh bông điệp, chiếc bàn tròn, cái ghế đẩu, chai nước ngọt thiếu nước đá… về miền quá khứ xa xăm. Bây giờ, đám giỗ xong, nhiều trái bom, trái lê còn thừa lại chừng một tháng nhưng trái vẫn tươi chong. Ghê thiệt!

Bà mẹ quê.

03/07/2013

Thăm người học trò cũ



            Huỳnh Nguyên Khang

            Trang trại Anh Mỹ nằm gần sông Bé thuộc xã Hiếu Liêm, huyện Tân Uyên, Bình Dương. So với ĐBSCL, nơi đây là vùng đất tương đối cao, rộng thoáng, ánh nắng mặt trời chói chang. Tôi hỏi anhTrần Minh Mẫn, chủ trang trại Anh Mỹ:"Hàng năm, trang trại này thu hoạch tính ra tiền chừng bao nhiêu?”. Anh Mẫn đáp thật chậm rãi:“Doanh thu cho một hecta cây có múi trong giai đoạn thu hoạch đạt từ 500 triệu đồng trở lên”. Tôi khá giựt mình trước khi tìm hiểu nội lực của trang trại này.

Anh Trần Minh Mẫn (giữa)

            “ Đem chuông đánh xứ người”
            Một ngày cuối tháng 4-2013, thầy Trương Thọ Lương rủ chúng tôi – những cựu học sinh Trường THCL Kiến Hòa lên thăm anh Trần Minh Mẫn trên tỉnh Bình Dương. Anh Mẫn hiện là chủ trang trại Anh Mỹ, là học trò của thầy Lương hồi thầy còn dạy tại huyện Mỏ Cày.
Đến nơi, anh Mẫn dẫn chúng tôi luồn sâu vào trang trại. Trên đường đi, chúng tôi nhảy qua nhiều rãnh đất phân lô đào sâu chừng 1 mét, ngang khoảng 80 cm và phải tránh nhiều cây nước tự động đang xoay tưới bên những gốc cây bưởi da xanh, cam quýt. Anh Mẫn nói: “Trước năm 1999 nơi đây là đất hoang hóa. Tôi và anh Lương Văn Ấu, cử nhân kinh tế, hợp tác đầu tư xây dựng nên trang trại này. Anh Ấu là người rất nhiệt tình, giỏi giang và rất nhiệt tình với trang trại…Trước hết, tụi mình ra xem một trong những cây bưởi da xanh trồng sát sông Bé mà Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam vừa đến thăm. Ông đánh giá đó là một gốc bưởi da xanh gạo cội tại miền Nam – anh Mẫn chỉ tay vào cây bưởi đó, tiếp lời – Cây bưởi da xanh này đã 14 tuổi. Hàng năm, chỉ riêng cây bưởi này, trang trại thu hoạch trên 20 triệu đồng”. Tôi lấy gang tay do thử gốc bưởi, úi trời, bề hoành của gốc bưởi hơn 6 gang tay. Trong lúc tôi đang ngơ ngác trước không gian xanh nơi đây thì anh Mẫn cho biết thêm: “Trang trại Anh Mỹ rộng 50 hecta, 25 hecta chúng tôi trồng bưởi da xanh còn lại 25 hecta trồng cam và quýt. Một gốc cam, quýt trồng đúng qui cách, đạt khoảng 5 - 6 năm tuổi trở lên, có thể cho thu hoạch khoảng  200kg/ năm”.
            Tôi hỏi về đầu tư phân bón và hệ thống tưới của trang trại. Về phân bón, anh Mẫn cho biết chi 2 tháng khoảng 1 tỷ đồng gồm 600 triệu đồng phân vô cơ, 400 triệu đồng phân hữu cơ. Riêng về hệ thống tưới, anh Mẫn chỉ tay bao quát trang trại nói: “Ống dày đặc âm dưới lòng đất, đầu tư tính ra khoảng 60 triệu đồng/hecta. Tụi này có đặt một trạm bơm nước, sử dụng điện 3 pha trên sông Bé, cách đây chừng 2 km, tưới cho cả trang trại 50 hecta. Vào mùa khô, cứ một, hai ngày các cây nước sẽ xoay vòng tưới đều các gốc cây ăn trái.Toàn bộ lưới điện 3 pha do chính quyền Bình Dương tài trợ, chi phí gần 1 tỷ đồng cách đây 6 năm”.


            Nhưng điều thú vị hơn là khi tôi biết tất cả cây giống như bưởi da xanh, cam, quýt ông Mẫn đều lấy từ Bến Tre mang lên trồng. Đặc biệt, từ nhiều năm qua, khi trồng những giống cây có múi nói trên, trang trại của ông Mẫn không hề bị các loài sâu tấn công. Trong khi đó từ sau tết Nguyên đán 2013 đến nay, tôi đến nhiều tỉnh ĐBSCL, nhất là tại Bến Tre, một đại dịch sâu hồng đang hoành hành dữ dội trên các vườn bưởi da xanh. Ở đó, nhân dân kêu trời, các cuộc hội thảo phòng chống sâu bệnh trên các vườn cây có múi diễn ra liên miên! Nơi những vườn bưởi tôi đã đến, để trái bưởi không bị sâu đục, xì mủ rồi trái rụng, hầu hết cây bưởi đều ngủ mùng (bao trái). Nông dân suốt ngày quần quật với mảnh vườn của mình mới mong thu hoạch khá!

Chị Diệp Hồng thăm trang trại Anh Mỹ

            Mô hình lý tưởng
            Trời đứng bóng. Các cựu giáo viên và cựu học sinh dùng bữa với anh Mẫn. Thật cảm động cho buổi họp mặt bất ngờ hôm nay là có sự hiện diện của thầy Nguyễn Hữu Huệ từ quận Thủ Đức sang chơi. Trước năm 1975, thầy Huệ dạy môn vật lý tại Trường THCL Kiến Hòa rồi sau đó thầy về dạy tại huyện Mỏ Cày. Ở Trường THCL Kiến Hòa, có lúc thầy là cố vấn nhóm kịch Tổ Ong. Thầy nay tuy đã  71 tuổi nhưng trông còn trẻ, vẫn chuyện trò bộc trực như ngày nào.Thầy Huệ nói: “Các em phải lên nhà thầy chơi và nghỉ lại một đêm, thầy mong lắm…”.
Anh Mẫn cho tôi danh thiếp của anh. Tôi lại khá ngạc nhiên khi biết anh Trần Minh Mẫn là dược sĩ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Dược Phẩm Anh Mỹ (AMPHARMA). Anh Mẫn nói với tôi quê hương anh tại xã Hòa Lộc, huyện Mỏ Cày, năm 1981 anh tốt nghiệp cấp 3 tại Trường THPT huyện Mỏ Cày rồi thi vào Trường Đại học Y Dược TP HCM. Ra trường một thời gian, anh thành lập Công ty AMPHARMA. Đến năm 1999, anh và anh Ấu bắt đầu đầu tư vào lãnh vực trồng trọt tại xã Hiếu Liêm. Ông Mẫn tâm tình: “Tôi và anh Ấu mỗi người đều phải điều hành 1 doanh nghiệp ( tôi là TGĐ Công ty cổ phần dược phẩm MEKONG, còn Anh Ấu là GĐ Công ty dược phẩm Anh Mỹ), nên thường cuối tuần mới lên trang trại. Sự thành công là nhờ các anh em hỗ trợ nhất là người quản lý điều hành là anh Trần văn Thận nắm rất vững về kỹ thuật”.
Ông Năm Hiền (quê xã Bình Khánh Đông, Mỏ Cày Nam, Bến Tre), người quản gia trang trại Anh Mỹ cho biết hiện trang trại có trên 50 nhân công chia đều ra các khâu:chăm sóc cây trái, vô phân bón, tỉa cành, tưới, thu hoạch…Tôi hỏi ông Năm Hiền:”Khi thu hoạch, trái cây chở đến các vựa bán?” Ông Năm cười nhẹ:” Các mối đến trang trại, thu mua và đóng kiện tại đây. Dịp gần tết…sung lắm nhưng riêng tôi thì không rảnh để về quê thăm nhà”. Đảo một vòng mắt nơi sảnh tiếp khách của trang trại Anh Mỹ với ao cá, nhà thủy tạ, một dãy nhà ngang với phía trước dây tơ hồng buông đều râm mát, phòng ăn, phòng ngủ, nhà vệ sinh…., tôi nói với ông Năm: “Vậy là êm quá rồi. Dân đồng bằng coi như trụ vững trên đất miền Đông”.
Giải thích vì sao nơi trang trại Anh Mỹ không bị sâu tấn công, anh Trần Minh Mẫn cho rằng vì trang trại này có diện tích rộng, gần trang trại không có vườn cây ăn múi nào nên mỗi khi khoanh vùng, xử lý thuốc trừ sâu đạt hiệu quả triệt để. Còn tại quê nhà như Bến Tre chẳng hạn, hộ canh tác với diện tích không nhiều ( 5-3 công đất hoặc chừng 1 hecta), lại trồng san sát nhau, nhen nhóm, xịt thuốc bên này thì bướm bay sang bên kia đẻ sâu.

          Tôi hỏi ông Nguyễn Minh Châu: “Thưa tiến sĩ, ông đánh giá  thế nào về sức sống của trang trại Anh Mỹ ?”. Tiến sĩ Châu cho biết ông đánh giá rất cao trang trại này vì thu nhập tại đây rất cao. Đặc biệt ở miền Đông mà làm được trái vụ trên cam quýt thì tay nghề phải rất cao, nhờ vậy giá bán mới cao, người trồng vừa nắm được kỹ thuật vừa nắm được thị trường cần lúc nào. Lại hỏi:”Hiện nay, tại ĐBSCL, đến các vườn cây có múi nhất là bưởi da xanh, bưởi năm roi đều thấy cây trái bị sâu hồng tấn công nhưng với trang trại Anh Mỹ thì không xảy ra. Ông lý giải vấn đề này ra sao?”. Tiến sĩ Châu nói: “Sâu đục trái, theo tôi, thì mấy vùng này do chưa có, chứ không phải trị được, vì đến nay giải pháp là bao trái, chứ chưa có giải pháp nào khác. Chỉ là chưa có thôi, tôi không nghĩ đó là do kỹ thuật nào hết”.

Các cựu giáo viên và cựu học sinh.