Showing posts with label Văn nghệ - trà lài: Thơ thẩn - Nhạc nhẽo - Vẽ vời - Hình bóng. Show all posts
Showing posts with label Văn nghệ - trà lài: Thơ thẩn - Nhạc nhẽo - Vẽ vời - Hình bóng. Show all posts

18/04/2015

Thương tiếc Cát Hoàng

Mới còn đãi Cát tìm Vàng (1)
Lựa từng con chữ kết thành “Mùa xuân” (2)
Trời đang xuân, đất đang xuân
Mưa rây” (3) bỗng đổ bão bùng lòng ai!
Giao thừa Giáp Ngọ - Ất Mùi 2015
                                                                        Nguyễn An Cư
(1): Bút danh của Cát Hoàng
(2): Tên bài thơ Cát Hoàng vừa đăng trên Văn Nghệ Hàm Luông xuân Ất Mùi 2015
(3): Tên tập thơ của Cát Hoàng

Nguyên tiêu nghe thơ Cát Hoàng (*)
-         Nguyễn An Cư  -
(Thân tặng nhà thơ Ngô Thị Thu Vân)**


Trên sân khấu,
Người nghệ sĩ diễn ngâm hình như thả hồn theo thi sĩ
Thơ Cát Hoàng từng chữ bay bay
Trăng Nguyên tiêu lượn lờ chao đảo
Bên cội Bạch mai có tiếng thở dài.
*     *     *
Mươi hôm trước anh còn miệt mài con chữ
Mà hôm nay theo cát bụi lăn quay!
Ai khen chê, ai thương khóc mặc ai.
Anh vẫn tiếp tục theo trăng theo gió.
*      *     *
Anh ra đi nhưng thơ còn đó
Những vần thơ trúc trắc cứa lòng người!
Anh ra đi nhưng tiếng cười còn đó
Những tiếng cười chan chứa tình người…
*      *      *
Bài thơ còn dài, sao người nghệ sĩ gục đầu đứng lặng?
Giọng diễn ngâm cũng lạc mất cả rồi!
Trăng Nguyên tiêu lại lượn lờ chao đảo.
Trước sân đình khẽ rụng đóa hoa mai.
          (Đình Phú Tự, Nguyên tiêu Ất Mùi 2015)
                             N . A. C
- (*): Nhà thơ Cát Hoàng, hội viên Hội VHNT Nguyễn Đình Chiểu từ trần vào chiều 30 tết 2015

- (**) Người diễn ngâm thơ Cát Hoàng đêm Nguyên tiêu Ất Mùi tại đình Phú Tự - Phú Hưng.

15/04/2015

            NHẬT KÝ ĐỜI TÔI (trích)
            Nguyễn Kim Hoàn 


           Cuộc sống thật mong manh.
           Cuộc đời thật ngắn ngủi.
Cảm nhận sự mong manh của cuộc sống qua hai lần "đột" mà không "tử".Chắc còn nặng nợ với trần gian.
Cảm nhận sự ngắn ngủi của cuộc đời qua câu:"Mới ngày nào tóc xanh như mạ, mà nay đã bạc như vôi". Thật vậy:
Mới ngày nào 4 tuổi, trời mưa còn tắm tr...với bạn nhỏ hàng xóm, nghe câu hát ru em:"Trời mưa bong bóng phập phồng. Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai." mà không cảm nhận được gì, vẫn vô tư rượt đuổi, hét la.
Mới ngày nào 6 tuổi, buổi sáng còn đi bắt dế dưới ụ rơm vàng óng, thả diều trên cánh đồng lộng gió ở quê nội, buổi chiều còn xách ná dàn thung đi bắn chim quanh lũy tre làng kẽo kẹt gió đưa ở quê ngoại, buổi tối còn chơi trốn tìm quanh hàng duối, hàng keo cao vút; dưới giàn bầu, giàn bí lá xanh, bông vàng lung linh trước gió.
Mới ngày nào 8 tuổi còn chơi trò "cờ lau đánh giặc" quanh ruộng lúa, bờ "đìa", u đầu, sứt trán, bùn đất lấm lem.
Mới ngày nào 10 tuổi, trên cù lao giữa biển, còn sóng vai với cô láng giềng đêm trăng, đi qua đi lại sân nhà chàng, sân nhà nàng, kể nhau nghe chuyện cổ tích, mặt nàng khi sáng long lanh dưới ánh trăng, khi mờ mờ ảo ảo  dưới tán lá khoai mì, vô tình chạm tay nhau mà nghe như rung động cả trái tim, phải chăng như nhà văn NNT nói đó là rung động đầu đời lãng mạn, dã man.
Mới ngày nào 14 tuổi, còn là cậu học trò PK, đi học bị lạc qua các con đường của trường nữ, cắm cúi đạp xe thật nhanh, không dám ngước mắt nhìn chủ nhân của những tà áo dài trắng bay bay trong gió. Chợt nhớ:

                    Con đường tuổi măng tre
                    Nắng vàng thu đẹp đẽ
                    Bóng người dài trên hè
                    Con đường tình ta đi       (PD) 
      
Mới ngày nào 20 tuổi, ngồi trong giảng đường Đại Học, ngắm nhìn những mái tóc đuôi gà, với "băng đô" xanh, đỏ, tím, vàng ...mà chẳng dám làm quen.
Mới ngày nào 25 tuổi, tốt nghiệp ĐHSP, về dạy học tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (tỉnh Bến Tre), ngôi trường nửa cổ kính, nửa hiện đại thật đẹp nằm soi mình bên Hồ Chung Thủy mộng mơ.Thời gian chỉ có 6 năm, nhưng biết bao nhiêu kỷ niệm đã đong đầy trong ký ức .Và giờ đây ,nỗi nhớ cứ tràn về. Nhớ những buổi sáng mùa thu, khi những giọt sương còn đọng trên lá cây ngọn cỏ, gió còn se se lạnh thì trên con đường Bờ Hồ đã rợp áo dài trắng thươt tha  với tà áo bay bay :
                          Có phải Em mang trên áo
                          Hai phần gió thổi, một phần mây
                          Hay là Em gói mây trong áo
                          Rồi thở cho làn áo bay          (NS)


Nhớ những buổi trưa hè, khi nắng vàng còn trải dài trên mái ngói sân tường thì trên con đường Cây Si đã rộn rã gót sen hồng. Nhớ hành lang lớp học với tóc xõa vai gầy. Nhớ phấn trắng bảng đen với bài ca Lý Hóa. Nhớ trò thuộc bài với mắt cười rạng rỡ, nhớ trò chưa thuộc mặt buồn hắt hiu. Học trò tôi, có em học giỏi, có em chưa giỏi, có em ngoan hiền, có em tinh nghịch, nhưng tất cả đều vô tư, chưa vướng bụi đời, chưa biết lo toan cơm áo gạo tiền, chưa biết những lọc lừa giả dối ở ngoài kia. Nhớ những đôi mắt trong veo nhìn như muốn nuốt lấy những lời giảng của thầy cô, tiếp thu kiến thức, làm hành trang cho cuộc đời mai sau. Cũng có những đôi mắt mà như lời của vài thầy giáo trẻ, làm lay động lòng người; nhưng có thế và cũng chỉ có thế mà thôi.
Nhớ những buổi chiều cùng bạn bè "mần" cả bao sò, bao nghêu, chứ bia thì uống chẳng bao nhiêu.
Nhớ những buổi tối trắng đêm cà phê, tán dóc chuyện đời, chuyện trò khó nói lắm ai ơi.
Nhớ một ngày Chủ Nhật, đi quyên góp giúp đồng bào bị lũ lụt ở miền Trung, gặp "một nửa của mình"(trước đó, trong trường, lần đầu gặp cô học trò nhỏ xinh, dịu hiền này mà tưởng như đã hẹn nhau trong tiền kiếp) trong căn nhà ngoại ô, ven sông Bến Tre, mà ngẩn ngơ, bối rối nên làm kẻ khờ ngọng nghịu đọc thầm thơ:
                 Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy.
                 Nghìn năm hồ dễ đã ai quên         (TL)
Và từ đó:
               Làm thơ tình Em đọc
               Cô học trò trường tôi
               Thơ vương rồi mùi tóc
               Ai đi về ngược xuôi     

              Em đi về áo mỏng
              Quyện mùa Xuân theo sau
              Hồn tôi chim én bỏng
              Âm thầm bay theo Em       (TH)


Và:


        
Mới ngày nào 31 tuổi, giã từ chủ nghĩa độc thân, tự ký bản án tù chung thân với người mình thương cùng lời chúc của bạn bè "Trăm Năm Hạnh Phúc". Từ đó, Hạnh Phúc tiếp nối Hạnh Phúc.
Rồi hai mươi mấy năm sau, tại Tân Cảng, hội ngộ với  bạn bè đồng nghiệp ngày xưa thắm thiết thân tình và với  học trò ngày ấy trong niềm vui vỡ òa sau bao năm xa cách.

Và từ đó, ngày vui tiếp nối ngày vui tại Sài Gòn, Bến Tre, Vũng Tàu, Long Hải, Đà Lạt, LaGi, Hồ Đắng,....với đủ "hương hoa, sắc màu" của cuộc sống. Chợt nhớ mấy câu thơ của ai đó:
    Gọi tên Em là Gió
               Em bay lên đại ngàn
               Gọi tên Em là Suối
               Em xuôi về đại dương (tác giả?)

               Thôi thì Thầy sẽ gọi
               Tên Em là Bến Tre
               Đẹp như nắng Xuân Hè
               Như tình tuổi măng tre.



         

                       Tháng 4, năm 2015

                                                                                                                                    NKH.

25/02/2015

           Đêm giới thiệu nhạc Huỳnh Thông

            Huỳnh Thanh Quang

Cuộc đời phiêu lãng, dong duổi nhưng nguồn cảm hứng sáng tác âm nhạc như người tình luôn sống bên anh. Tác giả Huỳnh Thông tức Lưu Huỳnh Thống, cựu học sinh Trường Trung học công lập Kiến  Hòa, hiện là giảng viên khoa Sử, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

Nhạc sĩ Huỳnh Thông


Đêm giới thiệu nhạc Huỳnh Thông diễn ra vào lúc 19 giờ ngày mùng 6 tết Ất Mùi tại Hội quán Nhường Tra (phường 8, TP Bến Tre). Tác giả Huỳnh Thông cùng gia đình và gần 40 bạn hữu đến dự. Ban tổ chức gồm: Nhà văn Vũ Hồng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng ban công tác Tây Nam bộ, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh, Nhạc sĩ Thanh Sử, Trưởng phân hội Âm nhạc, Hội Văn nghệ Bến Tre, Nhà báo Cao Thành Văn và nhà báo Phan Lữ Hoàng Hà.
Nhà văn Vũ Hồng dẫn lời giới thiệu chung về tác giả và 28 bài nhạc tuyển, được Huỳnh Thông viết từ năm 1970 đến nay.
            Tác giả Huỳnh Thông tên thật Lưu Huỳnh Thống, sinh năm 1955, quê xã Thành An, huyện Mỏ Cày, Bến Tre. Cách đây hơn 40 năm, khi là học sinh Trường Trung học Kiến Hòa Bán công đêm rồi vào học lớp ngày Trường Trung học công lập Kiến Hòa, anh Lưu Huỳnh Thông đã say mê âm nhạc và sáng tác bản nhạc đầu tay năm anh 16 tuổi.
            Cuộc đời phiêu lãng, rong ruổi nhưng nguồn cảm hứng sáng tác âm nhạc như người tình luôn sống bên anh. Trên bước đường thăng trầm đó, những ca khúc anh sáng tác mang đậm dấu ấn tuổi học sinh ở quê nhà – Bến Tre và vùng đất êm đềm, mộng mơ Đà Lạt – nơi anh kết nghĩa với người tình trăm năm, chị Mộng Lương.
           Tác giả Huỳnh Thông có nhiều ấp ủ nhưng phải đến tháng 1 năm 2015 anh mới cho ra đời tập Thơ Nhạc đầu tiên của anh  do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản. Tập Thơ Nhạc Huỳnh Thông in khổ 21 x 21 cm, 72 trang, minh họa do tác giả trình bày, giá bìa 80.000 đồng.  28 bài Thơ Nhạc gồm: Đồi sim chín, Về phố núi đồi, Chào em cao nguyên, Gió đồi, Giấc ngủ mù sương, Mùa trăng non, Một ngày vui, Thương dáng thông nghiêng, Đồi ơi!, Cung đồi mơ, Thương nhớ quê nhà, Bụi hương xa, Đường về kỷ niệm, Bãi vắng, Bóng đồi, Bằng lòng hạnh phúc, Sóng hương hoa, Chiều rơi trên sông, Mình chia tay, Xuân yêu, Chim ươm gió, Huyền thoại hoa, Chia tay bên hồ, Bông hạnh phúc, Ngày có em qua, Tình tôi tình ai, Xin lỗi thời gian và Thành phố chiều vàng.
Trong đêm giới thiệu tập Thơ Nhạc Huỳnh Thông các giọng ca đã trình bày 5 bản nhạc: Đồi sim chín, Chào em cao nguyên, Xuân yêu, Chiều rơi trên sông và Xin lỗi thời gian.  Tác giả Huỳnh Thông nói về trường hợp sáng tác các bài được giới thiệu:

Nhạc sĩ Thanh Sử giới thiệu quá trình biên tập Tập Thơ Nhạc của Huỳnh Thông


Bài 1. Đồi sim chín (thơ Bùi Giáng – Tác giả trình bày):  Bài này tôi phổ từ bài thơ “Anh lùa bò vào đồi sim trái chín” của cố thi sĩ Bùi Giáng, in trong tập thơ Bùi Giáng, Lá Bối xuất bản 1973. Năm đó, tôi học lớp 11, chỉ vì một cảm thức bất chợt, khi nắm bắt được mạch nhạc tính trong lời thơ khắc họa rất dung dị  hình tượng “anh lùa bò…” và cả “lũ bò” đều cùng mong muốn riêng tư là được thong dong tự tại cùng đất trời thiên nhiên … Vào năm ông mất, tôi hối tiếc vì mối giao cảm “vô duyên” của tôi với ông, nên chợt nảy ý mạo phạm rút gọn tựa bài, vì bây giờ không còn “anh lùa bò” nữa mà chỉ còn lại “Đồi sim chín” thôi, xin hương hồn ông lượng thứ.  Bởi dù sao, tôi đã phổ nguyên thể cấu tứ và lời thơ, chỉ thêm thắt giai điệu luyến lái và biến thể cung bậc, tiết tấu để đặc tả phong thái phóng khoáng của ông. … Bài nhạc này tôi nhớ đã phổ trong một buổi chiều đang mùa thi “đệ nhị lục cá nguyệt” và Trần Thanh Tuyên, một người bạn thân tình vừa qua đời cùng với biệt danh “lữ khách”, cũng là giọng hát chính của nhóm nhạc Hương Sống, là người được nghe tôi hát đầu tiên, vì Tuyên  luôn quí mến và khích lệ tôi… Nhiều năm qua, tôi vẫn hay hát bài này mỗi khi có dịp vui vẻ với bạn bè, với ngụ ý lý giải một góc nhìn phong thái thơ của Bùi Giáng mà theo cảm thức của tôi là “nửa tỉnh, nửa ngộ và như điên”…  Với bài này, tôi xin tự nhận là một ưng ý riêng trong vốn liếng ca khúc sáng tác thơ nhạc của riêng mình…

            Bài 2. Chào em cao nguyên (Tác giả tự biên tự diễn): Bài này tôi  viết tặng chung những chân dung, dáng dấp khả ái của nữ sinh Bùi Thị Xuân, từ những ấn tượng và cảm xúc đầu tiên, khi mới đến Đà Lạt vào năm học lớp 12 thi tú tài IBM 1974… Và một trong số nữ sinh “được chào…” từ thuở ấy, có một người…  cuối cùng đã chấp nhận tôi làm bạn đường từ ngày 30.4.1980, đến nay tròn 35 năm, cũng là năm cả hai cùng tuổi đáo tuế… và sắp sửa có 3 cháu ngoại ở hải ngoại và 2 cháu nội ở nội địa…

Bài 3. Xuân yêu  (thơ Cao Thành Văn– Ngọc Hương trình bày): Bài này được phổ từ bài thơ “Lời buồn mùa xuân” của Cao Thành Văn, cùng học lớp 11B2 trường THCL Kiến Hòa, niên khóa 1971-1972. Dạo đó, Văn được bạn bè ngưỡng mộ không chỉ vì học giỏi, cá tính điềm đạm, mà còn vì những bài thơ và truyện ngắn nhẹ nhàng “như Võ Phiến”, phổ biến trong tập san Đồng Vọng do Văn và Đặng Nhựt Linh cùng thành lập với hơn 10 tay bút cộng tác là thành viên… Cảm nhận bài thơ có nhiều ngụ ý tinh tế từ mùa xuân, tôi bèn phổ nhạc để làm phụ bản cho tờ báo xuân “Dáng Mai” của lớp 11 ban B, sinh ngữ Pháp duy nhất ở trường lúc đó… Bài này được Nguyệt Hạnh, trưởng nhóm Hương Sống trình bày đơn ca trong buổi Văn nghệ Tết 1973. Đó cũng là “Lời buồn mùa xuân” của tôi năm ấy, khi tôi ấp ủ mộng “ly hương”, chia tay bạn bè và trường lớp thân yêu để lên Đà Lạt học thi tú tài IBM 1974… Rồi trong đêm nay, sau 42 năm ròng, tựa bài được đổi thành “Xuân yêu” chỉ vì tôi và Văn đều đồng cảm muốn trút đi nỗi buồn xuân xưa…  Và người trình diễn bài này lần thứ 2, chính là người bạn đường của Cao Thành Văn,  chị sẽ thể hiện được trọn vẹn rất nhiều những ca từ về mùa xuân mà cuối cùng đều đồng qui về ý niệm “xuân yêu” và “yêu xuân” … mà chính Văn đã thêu dệt nên một chuỗi ca từ vê “xuân” thật bình dị và lạ thường đến thế.

Bài 4. Chiều rơi trên sông (thơ Trà Giang ):  Tôi quen Trà Giang vào buổi khởi đầu làm “sách liên kết” từ năm 1986… và phổ bài thơ “Khi em nói quê em” của Trà Giang để được đăng báo Xuân của Hội Văn Nghệ An Giang 1988, năm sau đó là bài “ Đừng tiễn đưa”… Nhớ lại, nhờ Trà Giang mà lần đầu tiên tôi có một góc nhỏ nơi bìa báo xuân của Hội Văn Nghệ An Giang dạo ấy… Rồi thời gian trôi đi, tôi bỏ dỡ việc biên dịch tiểu thuyết tiếng Pháp, nên không có dịp gặp lại Trà Giang, chỉ thăm hỏi tin qua bạn bè, cho đến nay khi tập nhạc  Thơ Nhạc này in xong tôi mới gặp lại Trà Giang để ký tặng… Trong quãng  thời gian thực hiện bản thảo tập nhạc này, tôi ngẫu hứng đổi tựa 2 bài của Trà Giang là “Chiều rơi trên sông”  và “Mình chia tay”, trích ca từ  do tôi viết thêm, và vì điều này mà tôi phải xin lỗi và được Trà Giang hài lòng… bởi cấu tứ và lời thơ của Trà Giang tôi vẫn giữ nguyên vẹn.

Bài 5. Xin lỗi thời gian (thơ Vũ Hồng ): Tôi quen thân Vũ Hồng vài năm nay, đúng lúc tôi rất mong được cơ hội in tập nhạc kỷ niệm, đã non nửa thế kỷ mà những bài nhạc của tôi vẫn còn nằm đó chờ thời ! Và Vũ Hồng đã giúp tôi thực hiện cơ hội in ấn tập nhạc này với 28 bài và trong đó có 3 bài thơ của Vũ Hồng, tôi từng đọc, nhớ loáng thoáng và nay mới có dịp để phổ để đăng vào tờ báo xuân Hồ chung thủy của Ban liên lạc cựu GVHS trung học Kiến Hòa, mà tôi là một thành viên làm văn nghệ - báo chí… Cả 3 bài này tôi cũng chọn ca từ chính để đặt tựa thay cho tựa thơ và cũng giữ nguyên lời thơ mà Vũ Hồng cũng rất hài lòng. Nghĩ lại cái duyên với thơ và nhạc của tôi đã đến lúc cần được tiếp bồi…

Đêm giới thiệu nhạc Huỳnh Thông kết thúc lúc 21 giờ trong không gian đầm ấm, vấn vương.
Chị Ngọc Hương trình bày một ca khúc do Huỳnh Thông phổ thơ của Cao Thành Văn


Các bạn hữu đến dự đêm nhạc.


31/12/2014

LỮ KHÁCH HÀNH

* Vĩnh biệt Thanh Tuyên
Ta sớm bước đi trên cung đường lữ khách
Hát bằng điệu thức xênh xang hội gió mây ...
Bằng nốt nhạc ngân dài ca từ sâu lắng
Gieo hương gió sống động nhịp bước đường dài
Ta mặc tình ta trên cung đường hạnh ngộ
Mặc thời gian trôi đi những tháng năm qua
Ta cúc cung hoa cỏ và hạt rượu sương
Cho trầm kha tiếng hát nhuộm nắng chiều xa
Ta cạn đời ta long lanh chung rượu nhạt
Từng sớm mai lĩnh xướng tấu khúc trường ca
Tặng riêng ta và những bạn bè quen thuộc
Thầm sẻ chia cung bậc vương vấn quê nhà
Ta đôi khi nhìn lại dặm đường đã qua
Bụi thời gian khuất tất từng dấu chân ta
Khỏa lấp cả tiếng hát trầm buồn khinh mạn
Níu gót Achilles ta lùi bước đường xa
Ta kết đời mình nơi cuối đường đáo tuế
Khi thời khắc thành nốt lặng miền ân huệ
Vẳng tiếng kèn bát nhã hòa điệu ngũ cung
Bồi âm trường khúc ngậm ngùi đời lữ khách


HUỲNH THÔNG
30.12.2014

Minh họa: Huỳnh Thống.

25/12/2014


      Một mảnh tình lớp ngày và đêm 
       Văn Thơ
·        Thay lời cựu học sinh Trung học Bán công đêm, nhân Kỷ niệm 60 năm thành lập trường Trung học Bến Tre 1954-2014.

Ngày nhập trường niên khóa sáu tám sáu chín, tôi chia tay các bạn học Trung học tư thục Tân Dân, sát cạnh nhà thờ, chuyển sang học lớp bán công ban đêm mới khai giảng của trường Trung học công lập duy nhất ở tỉnh lỵ, nhìn ra cảnh hồ Chung thủy thơ mộng, mơ màng. Lâu nay ở trường này nam học sáng, nữ học chiều, bây giờ cả nam nữ cùng học chung lớp đêm. Rồi từ dạo đó, ngôi trường này đêm đêm đèn vẫn sáng với các lớp học bán công, học phí chừng nửa trường tư và có thuyên giảm vì lý do gia cảnh.
Tôi cả nghĩ học sinh bán công đêm thường có ”mẫu số chung” là do gia cảnh mới tản cư về tỉnh lỵ, vì hoàn cảnh học hành trắc trở, hay bị “lỡ vận” kỳ thi vào lớp đệ thất đầu cấp “trung học đệ nhứt cấp” mà phải học tư thục. Song, cũng có riêng một “ẩn số” là vào học bán công đêm để giành cơ may chuyển vào trường công ban ngày, với điều kiện qui định phải có điểm hạnh kiểm tốt và học lực giỏi, mà ngôn từ bây giờ gọi là “tốp mười” hay “top teen”.
Theo giờ Sài Gòn hồi đó, tính trước một giờ so với giờ hiện nay, thì giờ học ban đêm bắt đầu sau khi các lớp nữ sinh công lập tan trường ban chiều, lúc năm giờ, và giờ học đêm kết thúc lúc chín giờ, để cho thầy trò ở ngoại ô còn kịp về nhà trước giờ giới nghiêm, từ mười hai giờ khuya, đến rạng năm giờ sáng. Nhớ lại giờ giấc đi học đêm, mới đầu không quen, đồng hồ sinh học bị lộn xộn, nhưng rồi cũng quen dần dần với thời khắc giờ âm ! Bị đám bạn bè cùng xóm học ban ngày chọc tức là gà vô chuồng thì tôi cũng vào lớp, tôi bèn trả đũa cay cú là khi mèo ị sáng thì đi hốt thôi ! Lời qua tiếng lại kiểu đó không tránh khỏi hiềm khích, rồi ẩu đả “thượng cẳng chưn, hạ cẳng tay”, nên cả đám hay bị phạt cấm túc ở phòng giám thị nhà trường hoài thôi… Nhưng đây chỉ là mẩu giai thoại học trò “cá biệt” theo cách gọi bây giờ, còn lại cũng có lắm giai thoại “thương trộm, nhớ thầm”, hay “tình tay đôi, tay ba” của học trò lớp ngày và lớp đêm sẽ được kể sau đây!
Chiều chiều đạp xe đi học với tâm trạng thư thả yên bình bao nhiêu thì khi đêm đêm trên đường về tôi càng âu lo thắc thỏm bấy nhiêu ! Bởi có hôm nghe tiếng đạn pháo vẳng vọng, tiếng trực thăng vần vũ, hay ánh hỏa châu rơi xa xa trên bầu trời ! Nhưng điều lắng đọng và phát tiết về tri thức và tâm thức trong tôi từ dạo đó có lẽ là những bài học được hàm thụ qua từng buổi học đêm đêm, thấm đượm tình ân sư và nghĩa bằng hữu…
Nhịp sinh hoạt đều đặn của ngôi trường về đêm như tạo thêm đường nét sinh cảnh mới cho hồ Chung thủy bớt vẻ u huyền vì có tiếng trống trường, có tiếng vui đùa trong giờ ra chơi và nhất là có bóng dáng học trò thư thái vô tư, cho dù thanh danh học trò công lập, học ban ngày vẫn còn đó là một tâm trạng so đo đối với học trò ban đêm…
Nhưng mặc cảm tự ty đó không tồn hoài mà được khỏa lấp ngay, khi chương trình học vấn và mọi sinh hoạt học đường của cả lớp ngày và đêm đều giống nhau như anh em sinh đôi, chung một trường, cùng thầy cô, chỉ có khác nhau “song cảnh” học ngày hay đêm, thể hiện qua mảnh phù hiệu thêu trên ngực áo thôi !
Giờ đây ! Nhớ lại những ngày học bán công đêm, tôi không quên những kết quả học tập đã thu đạt, đủ để làm hành trang vào đời cũng như các bạn học lớp ngày. Nhưng trong tâm thế từng trải cảnh học đêm, chúng tôi luôn nhớ những kỷ niệm học trò thú vị mà chắc rằng nếu không kể ra không ai biết, trừ phi là nhân vật chính trong những mẩu chuyện như thế này !

Minh họa: S. Thống.

Một lần nọ, tôi tình cờ nhặt được trong hộc bàn một lá thơ tình, chữ viết nắn nót vụng về trên nửa mảnh giấy học trò. Đọc qua tôi đoán chắc là của cô bạn buổi chiều bỏ quên, mà người gửi là anh bạn học buổi sáng, chắc cũng ngồi cùng chỗ nơi chiếc bàn khập khiểng ở cuối lớp này. Mà đây cũng là chỗ tôi ưa ngồi, để lâu lâu lén nhìn qua cửa sổ, nhìn sang dãy lớp bên kia có một ánh mắt bồ câu đã hút hồn tôi từ ngày nhập học !
Bài thơ đó đến nay tôi vẫn còn nhớ, bởi những ngày tháng sau đó chính tôi đã làm bùng lên một mối tình học trò tay ba, cùng cấp lớp học ngày và đêm, và ngồi cùng chỗ trên chiếc bàn khập khiểng này!
                    Mai này ! Anh mong Mai sẽ nhớ…
                   Lời ngỏ này là chân tình Anh
                   Vì Anh mong một mùa Mai nở
                   Cho xuân yêu sẽ đến cùng Anh
Chà chà ! Sau mấy ngày liền nhờ bạn học lớp ngày dò la tông tích, tôi biết đúng là có chàng tên Anh gửi thơ tán tỉnh nàng tên Mai. Tôi bèn thử dỡ “độc chiêu”, tán tỉnh táo bạo theo cách của tôi là đón chờ Mai tan trường và đường đột bước đến trả lại lá thơ, nói là vô tình nhặt được trong hộc bàn…! Khuôn mặt trái xoan của Mai trắng xinh chợt đỏ bừng, ánh mắt có chuôi long lanh nhìn tôi trân trân như kịp hiểu ra cớ sự, đôi môi hồng mỏng có nốt ruồi duyên khẻ nói cảm ơn, và rất bối rối khi đưa bàn tay phải thanh mảnh nhận vội rồi quày quả bước đi với dáng điệu thiếu tự nhiên… Tôi chợt bâng khuâng với câu hát tiếng Pháp rất nhạy cảm: “Qu’est sera… sera…”, tức là “Rồi mai sẽ ra sao…” ! Và rồi tôi khẽ huýt sáo mãi câu hát tình tứ này khi bước vào lớp học đêm hôm đó !
Cả đêm hôm đó, tôi thật khó ngủ, vì tự hỏi không hiểu Mai sẽ đáp trả thế nào khi biết lá thư bị đánh tráo bằng lá thơ của tôi, người họ Văn và mang tên Thơ !
                   Thơ này là Thơ gửi riêng Mai
                   Vì yêu xuân và rất mến Mai
                   Anh chỉ ngỏ lời qua thơ vắn
                   Nhưng với Thơ là cả tình dài
Tôi chợt trăn trở mơ màng so sánh ánh mắt có chuôi và đôi mắt bồ câu, đôi môi trái tim và nốt ruồi duyên trên khóe môi hồng mỏng, và một dáng điệu thanh tân rất thị thành so với vẻ chân quê dịu dàng… cho đến khi bừng tỉnh giấc, vì tiếng gà gáy sáng trong xóm vắng ngoại ô, sau một đêm dài mộng mỵ nhưng thật bình yên!
Từ những buổi học đêm sau đó, tôi luôn bước vào lớp học sớm nhất, để mong nhận được lá thơ hồi âm ! Quả nhiên ! Đến một hôm, còn hơn cả sự mong chờ, tôi nhận được lá thơ của Mai, với tuồng chữ chân phương tròn trịa trên mảnh giấy hồng nhạt, có mùi hương hoàng lan… Tôi lẩm nhẩm đọc hoài đến thuộc lòng và suy gẫm mãi phải hồi âm thế nào đây !
                   Không nỡ bỏ quên ! Mà không nhận !
                   Và rồi không ngỡ lại được Thơ
                   Thơ cũng vắn với lời thơ thẩn
                   Mai đợi tình dài trong ý Thơ
Kể từ hôm đó, bùng lên một mối tình tay ba kín đáo, khi tôi lặng lẽ đứng nhìn Anh chiều chiều đón đưa Mai chậm bước theo cung đường quanh bờ hồ rồi rẽ lối về hướng ngã ba Tháp…
Đến một buổi chiều tan trường cuối niên khóa, Mai lặng lẽ ngồi một mình bên cội me tây rủ bóng mát trên mặt hồ Chung thủy, như dự cảm một cuộc chia tay thầm lặng… Quả nhiên, vài hôm sau, Anh giáp mặt tôi lúc tan trường đêm, buồn bả nói: “Mai theo gia đình chuyển về Sài Gòn rồi…”. Tôi khẽ gật đầu và chìa lá thơ cuối cùng của Mai với mỗi dòng ngắn gọn, không phải thơ: “Tạm biệt Anh và Thơ nhé! Mai về học trường Trưng Vương rồi !”

Nhiều chục năm sau, mẩu chuyện tình bán công đêm xa xưa ấy được đồng cảm, khi tôi được tặng một bài thơ tình hay hay, cũng gợi lên cung bậc, tiết tấu và giai điệu đủ để phổ thành bài nhạc mang dấu ấn một mảnh tình học trò vào thời đêm đêm tôi đi học bán công đêm ! 

11/12/2014

            Từ ngày chia tay bên hồ
·                                Thông Quan

Trời đã về chiều, Quân vẫn nài tôi nán lại nhậu tiếp, vì mấy khi được bạn bè lạc bước đến chơi ở miệt giồng heo hút này. Nói vậy cũng phải, tuy biết rõ cảnh nhà của nhau, nhưng lâu nay hai đứa chưa lui tới nhà chơi lần nào. Hôm nay, tiện thể trên đường đi ngang nhà Quân, tôi chợt nảy ý ghé thăm xem sao, mà cũng vì đám bạn nhậu hay kháo nhau Quân ít khi đi đâu, muốn gặp thì cứ đến nhà, tha hồ nhậu, luôn sẵn mồi rất bén. Tôi kiểm nhanh bộ nhớ về Quân là đứa bạn học chung lớp từ trung học “nhứt cấp” lên “nhị cấp”, cho đến khi đậu tú tài IBM năm 1974, tôi đi xa quê, còn Quân thì về quê nhà, bây giờ thừa kế thửa vườn hương hỏa này, vợ thì lên Đà Lạt trông nom cháu nội, giỗ tết mới về ...
Nể lời Quân, tôi lừng khừng ngồi nán lại, rồi hỏi nhỏ: “Tao nhớ quê nội của Kim ở gần đây, bây giờ còn ai ở không?”. Quân liền nhấp chung rượu đầy, nhăn mặt thở khè rồi nói gọn: “Tao tưởng mày quên! Hay là sẵn dịp, tao đưa mày đi thăm mộ cô bạn mình luôn. Đi đi ! Gần đây lắm!”. Tôi đứng bật dậy như bị chiếc lò xo vô hình nẩy lên: “Ừ! Thì đi!”. Một cơn gió gợn lên làm rơi chiếc lá sa kê chao lượn rớt xuống mâm nhậu đã tàn, khiến tôi cảm nhận như có một cơn ớn lạnh thoáng qua chạy dọc xương sống xuống tận gót chân Achilles của mình… Rồi những hạt mưa chiều tháng sáu bỗng đỗ rào rào như thể tẩy trần cho cuộc tảo mộ cô bạn học, rất tình cờ…
Đến ngồi cạnh ngôi mộ đất cỏ dại um tùm, Quân che dù cho tôi thắp nén hương không bị tắt vì gió phất phơ, mưa rơi rỉ rả. Trong khi Quân trầm ngâm hút thuốc và nhìn cảnh vườn quê chiều chạng vạng, tôi bồi hồi im lặng nhìn tấm bia ghi tạc tên Kim và mường tượng chân dung cô bạn học thùy mỵ, với khuôn mặt tròn, mắt bồ câu, má lúm đồng tiền, môi trái tim, hay mỉm cười hé lộ chiếc răng khểnh rất duyên… Mà tính tình Kim cũng rất là điềm đạm, từ tốn, nhỏ nhẹ đến độ có vẻ như hay mắc cở, rục rè, nên bạn bè cũng gán cho biệt danh “Em hiền như masoeur”… Có điều dòng họ gia đình tôi là người cố cựu, ở giáp vùng ngoại ô, ba tôi là thầy giáo nên giữ gìn lễ giáo gia phong rất gắt, khiến quan hệ chòm xóm láng giềng hay kiêng dè, giữ kẽ! Cho nên hồi gia đình Kim tản cư về ở cùng xóm cũng rất dè dặt  giao tiếp với gia đình tôi… Và thêm một lý do tế nhị nữa là Kim phải học bán công đêm, ban ngày phụ mẹ buôn bán hàng bông ở chợ tỉnh, trong khi ba Kim hay đi làm ăn xa nhà… Một cơ hội giúp tôi làm quen với Kim và gây được thiện cảm lâu bền là vào sáng sớm hôm ấy, Kim đạp xe chở hàng bông ra chợ bị té ngã, hàng bông rơi vãi tứ tung. Tôi đang trên đường đi học sớm, vội chạy đến giúp Kim thu dọn, xếp lại hàng rồi giành chở thẳng ra chợ cho mẹ Kim kịp bán sớm… Nghĩa cử của tôi khiến mẹ Kim rất cảm mến, còn Kim có lần thố lộ rằng luôn mắc cỡ, thẹn thùng mỗi khi nhớ lại và suy nghĩ… Tôi trộm nghĩ hay là Kim đã thoáng liên tưởng đến tuồng tích Lục Vân Tiên với Kiều Nguyệt Nga chăng?
Quân chợt cắt ngang dòng suy tưởng của tôi, chỉ con số hưởng dương của Kim dừng lại năm 1977, tính đến nay chỉ bằng một phần ba tuổi đời của tôi, Quân và các bạn học cùng lớp tú tài IBM năm 1974… Rồi Quân kể gọn ngày an táng Kim ở  đây, cũng vào lúc chạng vạng như hôm nay, bà con chòm xóm đến rất đông vì ai cũng quí mến nết na, đức hạnh của cô tú Kim, còn bà con thân thuộc vì đường xá xa xôi cách trở dạo đó không về được nhiều… Rồi từ ngày đó, vì tình nghĩa bạn bè và cũng vì chỗ tình hàng xóm láng giềng, Quân vẫn hay lui tới thăm nhà nội của Kim vốn rất đơn chiếc, ít con cháu, và năm nào Quân cũng giúp dọn dẹp cây cỏ hoang dại quanh khu mộ Kim vào dịp tảo mộ cuối năm hay vào tiết thanh minh …
Tôi ngắt lời Quân, tranh thủ giãi bày tiếp tâm sự thầm kín rằng… Hết năm lớp 11, Kim đạt học lực giỏi, hạnh kiểm tốt nên được chuyển từ lớp bán công đêm vào học chung với tôi lớp ban ngày 12 A. Mặc cảm cách biệt lớp ngày và đêm của Kim và tôi từ đó được khỏa lấp, vì hàng ngày hai đứa cùng chung đường đi đến trường. Đám bạn học tinh nghịch từ dạo đó hay trêu chọc tôi bằng câu hát “Em tan trường về… Anh theo Ngọ về…” khiến Kim phải trách cứ tôi đừng để phải bị mang biệt danh tên Ngọ! Tôi nghĩ cũng phải, đành đi học muộn về muộn với đám bạn “xóm nhà lá”, để ra vẻ vô tình vô cảm với Kim, dù sự thật trong tôi đã trổi dậy mộng tình đầu ! 
Một hôm tôi tần ngần nơi tiệm sách, thấy bày bán bản nhạc đang thịnh hành “Em hiền như masoeur”, bèn nảy ý mua tặng Kim, vì dạo đó tôi cũng thường thấy cô bạn mình hay đi lễ nhà thờ, trong khi tôi biết rõ gia đình Kim chỉ thờ ông bà trên bàn gia tiên, bày xếp rất trang trọng! Qua buổi học hôm sau, tôi giả bộ hỏi Kim cho mượn tập vạn vật vì chép bài bị thiếu… Không ngờ khi tan học, Kim kín đáo trao vội cho tôi quyển tập, bao bìa bằng bản nhạc của tôi tặng, thoang thoảng mùi hoàng lan ! Tôi bối rối chưa kịp nói gì thì Kim đã bước nhanh theo cô bạn thân hay đi chung đường về. Tôi vội nói với theo, hứa sớm mai vào lớp sẽ trả lại tập, ẩn ý như một lời hẹn hò !
Quả nhiên, hôm sau tôi và Kim cùng vào lớp sớm nhất. Tôi lúng túng đến ngồi bên cạnh Kim, trao quyển tập mà mắt nhìn đâu đâu trên suối tóc đen dài mượt mà, rất quyến rủ, khiến tôi bất chợt đưa tay khẻ chạm vào… Kim vội khoát mái tóc, đứng bật dậy, đôi má ửng đỏ hồng, và mắt ươn ướt nhìn tôi đầy trách cứ… Đúng lúc đó, một cô bạn tóc ngắn, dậm mạnh tiếng guốc, bước vào mỉm cười rất lém lỉnh và nhí nhảnh, cố tình nói chữa thẹn cho cả hai cái tôi khác giới tính vừa chạm vào nhau: “Hai người hôm nay trực lớp hả ? Lau bảng, quét lớp chưa vậy ta?”. Tôi lật đật bước lên lau bảng mà lòng không muốn bôi xóa chút nào vì đã có một vệt phấn trắng vừa lướt qua hồn trí tôi...
Kể từ buổi học đó, mùa thi tú tài cũng cận kề, bạn bè đều lao vào việc học, và tôi cũng vậy, tạm gác những suy tính cơ hội tiếp cận Kim như đã từng, nhưng hàng đêm vẫn thao thức viết những bức thư tình tứ, lãng mạn để sáng hôm sau chuyển thư cho Kim qua những quyển tập khống, bao bìa bằng nhạc Trịnh, Phạm Duy như là ám hiệu mà không hề bị thầy cô, bạn bè nghi ngờ hay phát hiện! Hơn chục năm gần đây, tôi làm cộng tác viên cho nhiều tờ báo, nhận được vài giải thưởng báo chí, mà không ai ngờ rằng nhờ những đêm trường thao thức viết tình thư đã giúp tôi âm thầm trao chuốt được kỷ năng văn chương ướt át, mượt mà, giàu vần điệu xúc cảm và tu từ thâm thúy… Chính thầy dạy văn chương và triết học của tôi năm lớp 12 đã thắc mắc so sánh không hiểu tại sao một anh tú tài IBM ban A, hạng thứ như tôi lại trở thành nhà văn, nhà báo; còn mấy cô cậu tú tài ban C năm ấy, sau này lại trở thành nhà buôn, chủ hụi, và đại gia ? Tôi bật cười nói tếu với thầy cho vui : “Tại con tạo nó chạy vòng vòng thầy ơi!”   
Quân búng mẩu tàn thuốc lên cao, vạch một đường cầu vồng rơi xuống như một ánh ma trơi, rồi nhìn tôi cười hỏi tới: “Sau đó thì sao, kể tiếp đi để cô bạn mình không phải trách thầm nữa!”. Tôi kể tiếp như chiếu chậm lại đoạn phim buồn của hai nhân vật chính!
Sau cả buổi chiều ngồi ở nhà nghe radio xướng danh thí sinh đậu tú tài IBM, lòng đầy thắc thỏm, tôi chỉ mong có tên Kim, và ngộ lỡ không có tên tôi thì thôi cũng đành! Bởi sau kỳ thi, tôi đến nhà hỏi thăm, thấy Kim rất vui và tự tin, trong khi tôi rất lo âu vì có rất nhiều câu trắc nghiệm tôi chỉ đánh cầu may! Khi ra về tôi thầm hẹn Kim đi quán cà phê và nhận được một nụ cười hiền như masoeur! Rồi đến khi nghe đọc đúng tên hội đồng thi, bắt đầu từ vần A… và thực sự có tên Kim! Tôi đứng bật dậy như để trút đi nỗi băn khoăn câu thúc, vì trộm nghĩ biết đâu tôi cũng là một phần lý do khiến  Kim bị rớt thì sao! Rồi tôi lại ngồi xuống, hồi hộp nghe ngóng, chờ đến tên mình, thầm cầu mong không phải nhận lấy nỗi buồn “sĩ tử”, không phải chỉ vì sĩ diện mà còn vì biết nói sao với kỳ vọng của gia đình và niềm cầu mong chân thành của bạn bè và của cả Kim, bởi Kim nào muốn mình cũng là nguyên nhân khiến tôi thi rớt tú tài! Cuối cùng tên tôi cũng được đọc lên với số điểm “hạng thứ” thấp nhất nhưng coi như tôi đã bắt được cơ may “cá vượt vũ môn”, dù chỉ vừa đủ điểm làm cậu tú ! Tôi lấy vội xe đạp, chạy thẳng đến quán cà phê nơi góc bờ hồ Chung thủy như đã hẹn với Kim, mà lòng vui rạo rực, vì đã tránh được vận rủi bởi mấy câu hát bỡn cợt vào dạo mùa thi năm đó: “Ta hỏng tú tài!... Ta vuột tình yêu!...”. Tôi cao hứng nhại lời hát, trổi giọng ngang phè : “Ta đậu tú tài ! … Ta được tình yêu!...”
 Khi đạp xe đến nơi, góc hồ Chung thủy quen thuộc đang chìm dần trong bóng chiều tà, những tia nắng vàng muộn vẫn còn cố xuyên qua tàng lá me tây xanh rì, hắt những hạt sao lăn tăn, lấp lánh trên mặt hồ nước xanh rêu, như vẫy chào niềm vui đang rạo rực trong tôi… Nhưng không ngờ, đã có rất đông đủ bạn bè trong chiều hôm nay đã thành cô cậu tú, đang tưng tửng, túm tụm chia vui, cười đùa sảng khoái thật rôm rả! Song, tôi không thấy Kim đâu, bèn đùa cợt qua qua, chia vui với đám bạn “xóm nhà lá” đều đã thành “tú ông”, rồi đánh lãng đạp xe đi, vì một hoài nghi nhỏ giục tôi tìm đến nhà thờ… Quả nhiên, tôi tìm thấy cô bạn “hiền như masoeur” đang đứng đọc kinh Tạ ơn trước tượng đài Đức mẹ Maria, bên cạnh hang đá Chúa Hài Đồng…  
Tôi lặng lẽ ngồi chờ nơi băng đá, ngắm nhìn từ xa dáng dấp dịu dàng, bình dị của Kim, thường gặp với nếp áo sơ mi rộng, tay dài và quần dài sẫm màu, rất hợp với phong thái từ tốn, thanh thản, đoan trang của Kim. Đọc kinh xong, Kim đếm bước nhẹ nhàng đến chỗ tôi ngồi rồi ngập ngừng nói : “Kim cảm ơn những bức thư ấy nhiều lắm! Nhưng thú thật chưa bao giờ Kim dám mở ra đọc! Nếu có ngày phải gửi trả lại thì hãy xem như Kim đã đọc thuộc lòng rồi!”. Tôi thảng thốt đứng dậy định choàng vai Kim để gạn hỏi “vì sao và vì sao ?”. Nhưng Kim nhẹ nhàng đưa hai tay bắt chéo vai tỏ ý ngăn tôi dừng lại, rồi nhìn tôi với ánh mắt bồ câu ươn ướt, khẽ nói: “Rồi sẽ hiểu cho Kim thôi !”. Giọng Kim nhẹ nhàng nhưng rất nghẹn ngào, khiến tôi càng hoang mang, ấm ức và chỉ muốn được nghe Kim nói ngay có  điều gì đó đang khuất tất, thầm kín trong Kim. Nhưng Kim lại khẽ hỏi tôi một câu rất thường tình, cố ý đưa tôi về thực tại rằng với mảnh bằng tú tài trong tay tôi sẽ chọn hướng tương lai nào đây? Tôi đang lúng túng suy nghĩ tìm câu đáp thì Kim đột ngột nói ngắn gọn: “Thôi! Đừng trả lời vội! Kim cũng đang tìm lời đáp đó thôi!” Rồi Kim mỉm cười hiền lành, thánh thiện như masoeur,  vẫy tay chào hẹn gặp lại rồi bước nhanh đi về nhà, cách nhà thờ không xa lắm… Tôi ngơ ngác nhìn theo dáng Kim đi qua cổng nhà thờ, đổ bóng dài ngược lại, bởi ánh đèn đường vàng vọt ở tỉnh lẻ đã thắp sáng cho đêm nay khá lâu rồi…
Quân xếp dù đứng lên, cơn mưa cũng vừa dứt hạt, trời đã tối hẳn, ánh trăng non đang nhô lên nhưng không đủ sáng cho một vùng trời quê hiu quạnh và bãi tha ma này… Rồi Quân bật lời nói thay cho tôi : “Cô bạn mình yên nghỉ nghen! Bọn tôi về đây! Có dịp khác bạn bè sẽ đến viếng!” Tôi nghe tiếng gió lay cành tre và tiếng tàu dừa khua như tiếng nhạc buồn thê lương… và mường tượng như có ai hát văng vẳng bài “Em hiền như masoeur”…
Bước theo ánh đèn pin soi đường của Quân, tôi hỏi: “ Mày có biết rõ mấy năm cuối đời của Kim không? Tao muốn biết và bạn bè cũng rất muốn biết!”. Quân nói giọng trầm buồn, vắn tắt: “Kim muốn được vào dòng tu, làm masoeur thật sự. Nhưng gia đình cho đó là cách Kim muốn lẫn tránh cuộc đính ước hôn nhân với người anh họ của tao, lúc đó là một kỹ sư trong ngành công binh. Rồi lễ đính hôn cũng diễn ra lúc mày đang ở quân trường, chắc mày cũng biết, dù quá muộn phải không ? Kim nhờ tao đi bưu điện gửi trả những bức thư của mày, và dặn nếu sau này mày có hỏi thì nói rằng Kim đã đọc và đã khóc hàng đêm vì không giữ được lời nguyền thánh thiện, trinh bạch trước Thiên Chúa! Rồi lần mày về phép ghé thăm Kim nằm bệnh viện, sau khi mày ra về thì tao cũng vào thăm. Kim mời tao ăn giúp gói khoai lang chiên để trên đầu giường, nói là vừa nhờ mày mua ngoài cổng bệnh viện, với ẩn ý đó là món Kim hay mang vào cho cả lớp ăn vụng, mà đó cũng là một cách đùa vui cuối cùng của Kim với bạn bè thôi. Tao về lại nhà được một tuần thì gia đình đưa Kim về đây an táng!".
Về đến nhà, trời lại đổ mưa, Quân nói dứt khoát phải nhậu tiếp để ngủ trong cơn say cho qua đêm nay. Rồi cả hai đứa thi nhau cụng ly nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, để cố tránh nhắc lại câu chuyện đời buồn của Kim và của tôi.
Bất chợt tôi muốn nói thêm một giãi bày cho Quân biết, rằng khi ở quân trường có nhận được những lá thư gửi đến, tưởng là thư của Kim nào ngờ mở ra toàn những bức đã viết cho Kim, nhưng thấy có rất nhiều chữ nhiều dòng bị nhòe đi… Tôi quá thất vọng về Kim, bèn dùng mũi lê đào chôn những lá thư đó dưới cội thông già trong khuôn viên quân trường… Ít hôm sau, em gái tôi gửi thư báo tin nhà Kim làm đám hỏi, có mời một bà dì của tôi đến dự, gián tiếp chấm dứt mối tình của tôi và của Kim… Một cơ hội bắc nhịp cầu thông gia giữa gia đình tôi và Kim từ đó vĩnh viễn trôi xa không bao giờ trở lại!
Bây giờ, nghiệm lời Quân kể, tôi đoan chắc những vết mực nhòe trên những bức thư tình của tôi gửi Kim chính là những giọt nước mắt hồi âm cho một mối tình đầu trắc trở, kể từ ngày chia tay Kim trong sân nhà thờ, không phải bên bờ hồ Chung thủy trước cổng trường… 


                                                                                                          9. 12.2014

Bông Bạch mai tại đình Phú Tự.

25/11/2014

         Xin chút bóng mát ngày xưa

           Kim May

Nhớ về ngày lễ kỷ niệm 60 năm thành lập trường, xin gửi chút tâm tình của một người học trò cũ của ngôi trường thân yêu

        Hôm qua tôi đã về tìm EM. Em của tôi là những kỷ niệm thân thương về ngôi trường yêu dấu - nơi mà tôi đã " mài đũng quần trên ghế " suốt 7 năm ròng trung học - đã bị chôn vùi gần nửa thế kỷ .Ngày hôm qua là ngày làm lễ kỷ niệm " 60 năm thành lập trường ".



Cây me Tây và cây phượng ở trường xưa



Từ hôm trước, khi được một người bạn cho hay ngày họp mặt, tôi đã nghe lòng  bâng khuâng, chộn rộn. Cảm giác như ngày xưa thời học trò sau 3 tháng nghỉ hè, sắp đến ngày khai giảng thì chợt náo nức, rộn ràng nhớ trường, nhớ lớp, nhớ bạn bè, nhớ thầy cô. Bữa đó tôi liền tù tì gọi cho  bốn tên cùng lớp  còn sót lại thời xưa. Một đứa bận đám giỗ, đứa bận đi lễ nhà thờ, hai đứa còn lại thì tíu tít như con nít ( hihi ) :
   - Ê tụi ơi...hỏng biết có thầy X. , thầy Y. , cô z. đi hôn dzậy ? ( Hihi...)
   -Ê  tụi ơi ...tao phải đi " tút " lại cái nhan sắc " thị Nở " của tao mới được !( hihi..)
  - Ê tụi ơi, ngày mai tụi mình mặc đồ ..gì  , ta ? ( Hihi...!!)
- ....
  Thấy chưa ...Chưa gì mà mấy đứa tụi tôi bỗng trở thành con nít- thoắt cái tự nhiên trở thành nữ sinh trung học - mà hình như còn là nữ sinh trung học đệ nhất cấp nữa chứ, hehe .

           Và khi gặp nhau thì cây liên lạc bỗng đâm nhánh tùm lum tà la. Tôi lại gặp thêm một số bạn bè học chung hồi lớp Nhất ở trường làng nữa- ( hic hic thiệt vui không ngờ ! )


 - Tính theo lớp thì mấy tụi phải kêu tao bằng chị, hehe..
Tụi nó đồng loạt hiếp đáp lại:
  - Chị ..chị lị sứt quai hí hí
Rồi thì dẫn nhau rễn rễn quanh trường để TÌM BẠN cùng lớp và TÌM THẦY CÔ ...
   Thiệt là thương khi gặp ai cũng mỉm cười thân ái làm tôi nghe lâng lâng vui sướng - hệt như tâm trạng hưng phấn trong ngày tựu trường ngày nào !
  Có người  tình nguyện chụp hình cho cả bọn, có người xin vô chụp hình chung ,..ai nấy đều đương nhiên xem như thân thiết tự bao giờ! ( Thiệt là tuyệt vời dễ thương!!!).
   Tôi vui quá thành ngu ngơ nên có khi có người chào tên tôi thì tôi ngớ ngẩn hỏi " Ủa ...sao nhớ tên mình hả ? " mà không nhớ là mình đang mang cái bảng tên chần dần trước ngực khiến " đối phương " không khỏi cười tủm tỉm ...hihi  ( cũng dễ thương quá chớ !!!)
     Có người nhắc lại hồi đệ thất - út của anh chị lớn - được anh chị nhất là các anh chị sắp xa trường đệ nhất, đệ nhị cưng lắm, chỉ vì ngoan ngoãn, dễ bị dụ làm chim xanh đưa thư dùm cho " mấy ổng bả " .
    Có khi bồ câu đưa thư vô tình bị lộ làm cả khổ chủ và cả chim xanh cũng bị quay nướng giòn tan cả giờ trên phòng giám thị, hehe...


     Rồi kỷ niệm giờ ra chơi đứng trong rào( lén giám thị ) mà lại tranh nhau  ơi ới  ( hihi ) gọi mua "nước đá đủ thứ " bán ngoài rào. Món giải khát nầy có lẽ chỉ có ( và chỉ được ghiền ) ở thời của tụi tôi thôi hay sao, bây giờ tôi không thấy bán nữa .

     Rồi kỷ niệm cúp cua đi chơi mới ra khỏi cổng gặp ngay ông thầy mà mình định trốn môn học, Thầy lại  cười: “Tưởng thầy bệnh nên đi thăm thầy hả mấy cô nương ?". Thiệt là quê chết người rồi phải lẽo đẽo theo thầy trở vô lớp !
     Buổi chiều, chúng tôi theo thầy cô đi thăm miếu Tiên sư ở cạnh trường. Một vài Thầy Cô lão thành thắp nhang còn bọn chúng tôi chỉ vào xá ba xá mà thôi. Chúng tôi nhìn câu đối 
 :
            “ Dạy trẻ khô buồng phổi,
              Thờ thầy lụn nén hương”

X X
  X
      Khi chia tay, bỗng có tiếng hát:
Ngày đó có Em đi nhẹ vào đời 
và mang theo trăng sao ...đến với lời thơ nuối ..
...................

Ngày đó có ta mê mãi tìm lời 
tìm trong cơn rách rưới cơn mơ nào lẻ loi ...!
................
Trùng dương ơi có xót xa cũng hoài mà thôi ! 
  


Nghĩ thương sao mấy đứa khùng khùng bọn tôi, bài hát nào tụi tôi cũng có thể hiểu theo cách riêng của mình và coi như là tác giả sáng tác riêng cho mình trong ...mọi tình huống, mọi thời điểm, mọi tâm trạng ...! ( Hihi )


   Hic hic ...
   Tạm biệt mấy tụi ,,,
   Tạm biệt ...EM của tụi ( và tôi )!



Cây sộp cạnh dãy B.

24/11/2014

            60 năm dưới mái trường xưa – một ngày vui nồng ấm

            Sáu Quang

            Nơi miếu Tiên sư cạnh Trường THPT Chuyên Bến Tre vẫn còn đó câu đối:
            “ Dạy trẻ khô buồng phổi,
              Thờ thầy lụn nén hương”






            Sau bản hợp ca sôi động Nối vòng tay lớn và Ai em ta về, lúc 9 giờ ngày chủ nhật 23-11-2014, ngày họp mặt kỷ niệm 60 năm thành lập Trường Trung học Bến Tre qua các thời kỳ(1954-2014) chính thức khai mạc. Ngôi trường bên cạnh hồ Trúc Giang(TP Bến Tre) này lần lượt mang tên: Trường Trung học Bến Tre, Trung học Kiến Hòa, Trung học công lập Kiến Hòa, Trung học công lập tổng hợp Kiến Hòa, Bán công đêm, Trung học Lạc Long Quân, Phổ thông trung học Bến Tre,  Phổ thông trung học Nguyễn Đình Chiểu và Trung học phổ thông Chuyên Bến Tre. Buổi sáng, hơn 100 thầy, cô, các cựu học sinh qua các thời kỳ và ông Trần Ngọc Tam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre đến dự. Buổi chiều, bạn Nguyễn Thành Phong, cựu học sinh Trường Phổ thông trung học Nguyễn Đình Chiểu(Bến Tre), hiện là Ủy viên trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, bạn Cao Thành Hiếu, cựu học sinh Trường Phổ thông trung học Nguyễn Đình Chiểu, hiện là Chủ tịch UBND TP Bến Tre đến dự. Đặc biệt còn có sự hiện diện của thầy Bùi Thanh Kiên và 5 thầy là cựu học sinh khóa đầu tiên (1954- 1955) Trường Trung học Bến Tre.

Các cựu giáo viên qua các thời kỳ

            Thầy Bùi Thanh Kiên phát biểu đầu tiên: “Tinh thần tôn sư trọng đạo đã hằn sâu trong huyết quản của các thế hệ cựu học sinh dưới mái trường này, đây là dịp để các cựu học sinh tề tựu về đây tôn vinh thầy, cô, chia sẻ vui buồn với bạn học cũ, tất cả cùng rưng rưng khi ngắm nhìn mái trường xưa…” và thầy Kiên nhắc lại lời giáo huấn của thầy Nguyễn Văn Trinh, vị hiệu trưởng đầu tiên của Trường Trung học Bến Tre:
“Ra cửa dạy trò văn hóa mới,
            Vào nhà khuyên trẻ lễ nghi xưa”.
            Với ý tưởng mục tiêu giáo dục này, năm 1972, anh(thầy) Nguyễn Đăng Phu lập lại câu đối trước cổng trường:
            “Hàm dưỡng nhân luân minh tuấn đức,
             Hoằng khai khoa học tác tân dân”
            (tạm dịch: Ôm ấp chứa đựng và nuôi nấng phát triển đạo làm người để làm tỏ rạng đức sáng của thánh hiền. Đào sâu và mở rộng khoa học để đổi mới cuộc sống người dân).
            Sau đó, các khối của các trường và các thầy, cô đã từng dạy học cho các khối lần lượt chụp hình lưu niệm để làm kỷ yếu 60 năm thành lập trường.
            Để thể hiện tinh thần Tôn Sư, Trọng Đạo, lúc 11 giờ 30, các thầy, cô và các cựu học sinh đi viếng miếu Tiên sư(thờ thầy, cô tiền vãng). Tại đây, phòng bày biện đơn sơ với một bảng gỗ khắc tên thầy, cô quá cố, hai bên có câu đối:
            “Dạy trẻ khô buồng phổi
             Thờ thầy lụn nén hương”.
            Buổi chiều, tại Trường THPT Chuyên Bến Tre, thầy Huỳnh Tấn Kim Khánh, bạn Lương Văn Tô My, Trưởng ban liên lạc cựu giáo viên và học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa nói lý do buổi lễ và ôn lại truyền thống, sinh hoạt của ban liên lạc các cựu giáo viên và cựu học sinh qua các thời kỳ, thầy Trần Tấn Minh, Quyền Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Bến Tre chào mừng và cảm tạ các thầy, cô, quan khách và các cựu học sinh về dự họp mặt đông đủ.

Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre Nguyễn Thành Phong (trái) và cựu giáo viên Nguyễn Văn Tốt

Ông Trần Ngọc Tam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre(bìa trái) với các cựu giáo viên

            Ông Nguyễn Thành Phong, Ủy viên trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre phát biểu với lòng trân trọng đối với công đức của các thầy, cô. Từ công đức đó, các thầy, cô đã dạy dỗ cho nhiều thế hệ học sinh thành tài rồi đem trí lực của mình phục vụ cho quê hương, đất nước, xứng danh là nơi vun đắp cho “hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, Bến Tre sẽ tiếp tục vun đắp nhân tài ở mái trường này…
            Còn trước đó vào buổi sáng, Ông Trần Ngọc Tam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre nhấn mạnh: “Gần đây, có nhiều nguồn tin cho rằng khi Trường THPT Chuyên Bến Tre dời về cơ sở mới ở phường Phú Tân, tỉnh sẽ giao nơi đây cho ngành không liên quan đến văn hóa – giáo dục. Xin khẳng định là điều này không có, mà sẽ giao cho Trường THCS thành phố Bến Tre để mở rộng, phát triển sự nghiệp giáo dục tại TP Bến Tre”. Sau lời phát biểu của ông Tam, nhiều tiếng vỗ tay vang lên.
            Trước khi kết thúc ngày họp mặt kỷ niệm 60 ngày thành lập Trường Trung học Bến Tre. Ông Nguyễn Thành Phong và các thầy, cô, các cựu học sinh viếng ngôi trường mới của Trường THPT Chuyên tại phường Phú Tân. Ngôi trường Chuyên mới của tỉnh Bến Tre đạt đủ tiêu chuẩn, khang trang, hiện đại vào bậc nhất khu vực ĐBSCL.
            Một ngày vui, nồng ấm của các thầy, cô và các cựu học sinh đã khép lại với lòng xao xuyến…từ bài ca Lưu bút ngày xanh của nhạc sĩ Thanh Sơn do cựu học sinh Lý Ngẩu trình bày sau lời phát biểu đậm tình cảm của ông(bạn) Nguyễn Thành Phong.

Bạn Lý Ngẩu đơn ca Lưu bút ngày xanh.


            Các thầy Hiệu trưởng Trường Trung học Bến Tre, Trung học công lập Kiến Hòa, Trung học Kiến Hòa bán công đêm và Trung học Lạc Long Quân(trước 1975):
-          Thầy Nguyễn Văn Trinh
-          Thầy Phùng Văn Tài
-          Thầy Nguyễn Đình Phú
-          Thầy Bùi Văn Mạnh
-          Thầy Huỳnh Phú Hiệp
-          Thầy Trần Kim Quế
-          Thầy Huỳnh Thành Công(Bán công đêm)

-          Thầy Phan Thế Chánh.