11/12/2013


Nước mát bên đường

Phan Lữ Hoàng Hà

Giờ đây, thùng nước mát bên đường vẫn còn đó, những cơn nắng gay gắt vẫn tiếp tục, thời khắc xổ số lúc 16 giờ hàng ngày vẫn cố định nhưng bà cụ bán vé số đã biệt tăm. Có lẽ bà đã hết hớt hãi, phập phồng với những tấm vé số còn đọng lại trên tay…

Buổi trưa, trời nắng chang chang, xe phóng vù vù trên đường phố nhưng trong không gian oi bức, hối hả kia, có một nơi mà mọi việc diễn ra như khúc phim quay chậm. Ở đó, thỉnh thoảng những người đi trên đường như bán vé số, mua ve chai, mua tro, chạy xe lôi…ghé lại bên đường, họ uống một ca nước mát miễn phí rồi tiếp tục với cuộc mưu sinh của mình. Điểm uống nước miễn phí này của Cơ sở in ấn, thiết kế, quảng cáo AU (số 292D Nguyển Văn Tư, phường 7, thành phố Bến Tre).
            Tôi dường lại tại đó uống một ca nước. Nước uống ngọt, mát hơn rất nhiều so nước tôi đun sôi ở nhà. Một bà cụ sống nghề bán vé số, nay tuổi ngoài 70, ngụ phường 7, vẫn thường qua đây và dừng chân vài ba phút để “giải khát”. Giải khát xong, bà tiếp tục chống gậy, rao ơi ới trên đường mưu sinh của bà. Ông Lê Phước Thọ, cựu học sinh Trường Trung học Công lập Kiến Hòa, chủ nhân tốt bụng của Cơ sở AU, nói với tôi: “Nước bình. Cứ hết bình này thì cơ sở chúng tôi thay bình khác cho mọi người qua đường uống miễn phí”.
            Vì bình nước để bên đường nên bình và cả chiếc ca để người qua đường uống được bọc bằng bao ny long để tránh bụi. Ông Thọ nói rằng, hàng ngày, những người bán vé số, mua ve chai… đến trước cơ sở của ông, uống một ca nước rồi xin thêm nước vào chiếc chai nhựa của họ mang theo. Họ cũng tế nhị và chừng mực lắm, chỉ dùng những chiếc chai nhựa chừng nửa lít trở lại vì họ nghĩ sẽ còn nhiều người khác nữa. Một hôm, có một ông cụ đến uống một ca nước rồi lấy thêm nước vào chiếc chai nhựa 2 lít của ông mang theo. Khi vừa lấy thêm nước để đem về nhà, ông cụ có vẻ ngần ngại khi thấy ông Thọ vừa xuất hiện. Ông Thọ liền đỡ lời cho ông cụ: “ Không sao. Bác đừng ngại gì, cứ lấy  nước về uống”.
            Trước đây, ngay trong lòng thị xã Bến Tre (nay là thành phố), như trước Tịnh xá Ngọc Bích (Phú Khương) hay dưới chân cầu Nhà thương (phường 5), người ta vẫn bắt gặp một cái khạp da bò đựng nước lạnh với cái chén úp trên nắp khạp, mời người qua đường tha hồ uống nước mát. Trên đường về các huyện trong tỉnh cũng vậy. Xa xa về nông thôn, trước một ngôi nhà lá đơn sơ nào đó, cũng có những chiếc khạp đựng dòng nước mát đầy ấp tình người như thế. Ấn tượng hơn là  trên những chiếc khạp hay chiếc lu nho nhỏ đó, chủ nhân của nó đều đậy lên bằng một chiếc nón lá hoặc đậy một chiếc nắp được kết bằng lá dừa nước để che bụi đường.
Ngày nay, những chiếc khạp da bò, những chiếc lu xi măng chan chứa tình người ấy đã lùi về quá khứ và thay vào đó là những chiếc bình nhựa thượng thời, nhưng nó vẫn mang ý nghĩa nhân bản như nhau. Có khác là hồi đó người ta uống một vài chén nước mát rồi đi còn bây giờ, cuộc sống ở xã hội có nhiều bức bách nên những người đang oằn vai trong cuộc mưu sinh cần tranh thủ để có thêm nước uống cũng là chuyện bình thường, đáng yêu, chủ Cơ sở AU Lê Phước Thọ chia sẻ.


                                    

10/12/2013


            Ơi cuộc sống!

            Ngọc Anh



            Ơi cuộc sống!
            Ta muốn gào, ta thét
            Khóc thật to cho thoả nỗi lòng
            Để đau buồn đều tan thành nước mắt
            Để mây đen trốn chạy ánh bình minh.

            Ơi cuộc sống!
            Ta muốn cười thật lớn
            Để niềm vui lan tỏa đến bốn phương
            Để mặt trời rải nơi nơi nắng ấm
            Để ánh nắng lấp lánh pha lê.

            Ơi cuộc sống!
            Ta muốn nắm thật chặt
            Một bàn tay của bạn tôi xưa
            Để hơi ấm tình người lan tỏa
            Để vững tin, tôi biết mình có thể
            Vượt khó khăn và đến với thành công.

            Ơi cuộc sống!
            Ta muốn ôm hạnh phúc
            Một đôi vai gầy
            Một chiếc áo cần lao
            Một ánh mắt nói lên muôn tiếng nói
            Tiếng yêu thương

            Tiếng của tình người.
            
            Lữ khách

            Kim Cương

            Mai từ biệt chợ lên đồi
            Vẽ lên vách núi hình người man sơ
            Rừng cây mấy lượt lá khô
            Ta làm đá cuội ngẩn ngơ bên đường
            Nhìn con hươu đứng đầu nguồn
            Uống vầng trăng bạc ướp hương quế trầm
            Theo đàn chim nhỏ bay hoang
            Biến trong biển gió ngút ngàn hư không
            Ai về phố thị nhắn dùm
            Rằng ta gửi trả thế nhân trò cười
            Nửa vời nuốt lửng trái mê
            Thiên thu khấn chuộc lời thề xa xăm
            Thả hồn lạc cõi thinh không
            Tìm ta cứ hỏi rêu xanh cuối đồi.

Minh họa: S Thống.



            Nữ sinh

            Kim Cương

            Tóc em dài hồn nhiên
            Dáng ngoan hiền vạt nắng
            Ngây thơ như lụa trắng
            Áo về đường bay bay
            Tiếc thay ta trót mất
            Thuở ngày ươm chất mật
            Uống chưa vơi chén sầu
            Thời gian nay còn đâu
            Gặp em chỉ một lần
            Sao tim hằn nỗi nhớ
            Như vết chàm trên tay
            Suốt đời chẳng phôi pha
            Ôi nhân thế cõi trần
            Dù quay về hư không
            Nhưng em tình có hẹn
            Còn ta mãi long đong
            Thôi, chân du phiêu bồng
            Ta ẩn tình tuyệt vọng
            Tuổi em còn hoa mộng
            Ta tuổi đã già nua
            Nên khi ta chưa yêu
            Tình đã nhiều chia xa
            Và khi ta đang yêu
            Em dường không muốn hiểu
            Nay lối mơ không thành
            Người sẽ quên chóng vánh
            Ta chỉ xin em dành
            Riêng chút nhớ mong manh.


                                                             K.C

09/12/2013

Vui buồn ngày cũ ở nhóm dạy giờ

                       
           
                                                                                   
            Bùi Thanh Kiên



            Quỹ thời gian không còn nhiều. Già rồi, khi nhớ khi quên. Tôi vẫn còn nhớ và tâm đắc nhất câu thơ của Hồ Văn Hảo, tác giả tập THƠ Ý:
                        “Sắp xa đời, tôi lại thấy yêu đời
            Đối với tôi hiện nay, cái gì cũng thấy thân quen, cũng đáng lưu giữ trong tâm hồn. Và có nhiều việc phải kể ra cho nhau nghe để tìm chút cảm hoài. Ngồi đây mà tâm hồn mong vọng mãi tận đâu đâu, bất giác ngùi nhớ lại “những ngày xưa thân ái” nên “mài nghiên mực cũ, giở tờ sách xưa” để khơi dậy chút dư hương trong nghề gõ đầu trẻ khi chân ướt chân ráo bước vào đời cách nay những hơn nửa thế kỷ.
            Đời muôn vạn nẻo nên mỗi lối vào đời đều “có trăm lần vui, có vạn lần buồn”.
          Ở Trường Trung học Kiến Hòa, có một số anh chị em chúng tôi bước vào ngành giáo dục với một chức danh ngồ ngộ: “giáo sư tư nhân dạy giờ”. Mà gần như toàn quốc, trường nào cũng có thầy cô dạng đó vì vào thời điểm này, việc đào tạo giáo sư chánh ngạch của Bộ Giáo dục chưa đáp ứng nổi nhu cầu nhân sự cho các trường trung học đang phát triển rầm rộ. Chúng tôi là những thầy cô đến dạy lớp không qua đào tạo của ngành sư phạm. Đó là cách tạm “dừng bước giang hồ” để rồi lặng lẽ, lầm lũi đi nốt lối mòn trước mặt hay bước vào ngã rẽ của nẻo đời vô định còn lại. Đó là những người chờ đợi để chọn một hướng đi khác cho thích hợp nguyện vọng mình hơn. Còn lại một số anh em, trong đó có tôi, chấp nhận nghề dạy học như “cái nghiệp dĩ” và đeo miết cái nghiệp đó dầu có tiếp tục học thêm nữa hay không. Đó là cái nghề ông bà cô bác đi trước đã nói:
                                                “Dưa leo chấm với cá kèo,
                                    Bởi con nhà nghèo, đi học noọc-man.”
École normale là trường sư phạm, École normale supérieure là trường đại học sư phạm. Sau này, Sài-Gòn mới mở ĐHSP vào cuối thập niên 1950. Trước đó, Tây chỉ mở trường Cao đẳng Đông Dương tại Hà Nội. Thôi, được hân hạnh gia nhập hàng ngũ “làm thầy” dầu là thuộc đẳng trật nào thì cũng là niềm vui lớn lao rồi.
            Tụi tui cũng đông, lực lượng cũng hùng hậu, mấy chục mạng lận, nam có nữ có, trong tỉnh có, ngoài tỉnh cũng có, có khi có người ở mãi tận “Xì-Gòn” cũng xuống gia nhập hàng ngũ chúng tôi. Chúng tôi gọi nhóm này là gờ-rúp ô-re (groupe horaire: nhóm dạy giờ), lâu lâu nói tiếng Tây tiếng U một chút cho oai!
            Bên nam thì huynh trưởng là anh Mai Văn Liêm; bên nữ thì chị Tô Thị Lễ được tôn làm “đại ca”. Nhỏ hơn một chút thì có các anh Huỳnh Ngọc Diêu, Liêu Văn Được, Nguyễn Văn Các, Đỗ Quang Triêm, Nguyễn Văn Bình (tục gọi là Bình râu, người Long An), Cao Văn Phước, Lưu Văn Của, Trần Công Danh, Nguyễn Chơn Nhơn, cá nhân tôi và một ít anh em khác nữa. Bên nữ thì có chị Nguyễn Thị Đang, chị Hồ Thị Uyển, chị Lữ Thị Đoàn, chị Phạm Thị Hạnh, chị Nguyễn Thị Phương Lan... Đó là giai đoạn đầu, bắt đầu từ năm học 1961-1962. Sau này, mỗi năm nhà trường lại tuyển dụng thêm một số anh chị khác.
Lương bổng hằng tháng của chúng tôi không đến nỗi tệ nhưng không đều đặn. Có tháng vầy tháng khác, đúng là “khi trồi khi sụt”. Tôi còn nhớ rất rõ giá biểu giờ dạy lúc đó. Dạy ở bậc trung học đệ nhất cấp, trong mười giờ đồng hồ đầu tiên, chúng tôi được hưởng giá 104 đồng/giờ. Số giờ còn lại, chúng tôi được tính 80 đồng/giờ. Ví dụ anh A dạy 18 giờ mỗi tuần thì trong một tuần, anh được hưởng:
-(104đ x 10) + (80đ x 8) = 1.040đ + 640đ= 1.680đ
            Tháng nào có 4 tuần thì anh A lãnh: 1.680đ x 4 = 6.720đ
            Tháng có 5 tuần thì tiền lương anh A sẽ là: 1.680đ x 5 =  8.400đ.
            Gặp những tháng nghỉ nhiều như tháng cận Tết, tháng cuối của năm học chỉ có vài ba tuần thì chúng tôi cũng phải chịu. Còn trong lúc học sinh nghỉ hè thì bọn tôi nhóc mỏ cá kèo vì “khô máu”. Sự vụ lệnh tuyển dụng giáo viên dạy giờ có từ đầu năm học và Văn phòng Hiệu trưởng phân bố số tiết dạy/tuần. Lương bổng đợt I của chúng tôi được phát lúc gần Tết. Lãnh  hai ba tháng dồn lại một lần, chúng tôi được một thuở phong lưu. Nhưng, nói theo kiểu nông dân, mưa rào một trận dữ dội không làm nước nổi ỉnh oi mà chỉ làm mát mình và vì nắng lâu nên đất nứt nẻ, bao nhiêu nước mưa đó theo lỗ nẻ mà chảy tọt đi mất! Tiền lính thì tính liền, còn lương tiền của chúng tôi cũng vậy, chẳng mấy chốc rồi cũng “ hồ bao lép xẹp”. Đi coi thi, chấm thi, chúng tôi cũng được hưởng quyền lợi như mấy anh chị chánh ngạch: giấy lộ trình (feuille de route), ngày công coi hoặc chấm thi, mười một đồng hai cắc mỗi bài chấm; coi thi xa thì có cả vé tàu xe, có khi có cả vé máy bay.
Lúc đó, lương bổng như vậy cũng không đến nỗi tệ. Giá sinh hoạt lúc đó còn rẻ. Buổi sáng, ăn một tô hủ tíu chỉ tốn 5 đồng, uống ly cà phê đen, chú Sáu Đáo tính 1 đồng rưỡi, ly cà-phê sữa là 2 đồng; đổ xăng cho xe Honda tốn 7đ/lít, còn xăng pha nhớt cho chiếc xe Mobylette chỉ tốn 8 đồng. Tiền mướn một phòng nhỏ ở để đi dạy chỉ tốn 120đ/tháng; ăn cơm tháng chỉ tốn 240đ/ tháng.
            Cuộc sống bình yên của những kẻ “cùng một kiếp bên trời lận đận” lặng lẽ và chậm chạp trôi đi như vậy. Con người ta khi “xu hào rủng rỉnh” thì chú Mán cũng có phong thái của một ông vua nho nhỏ:
Khi cà-phê, khi thuốc lá, khi nước đá, khi đủng đỉnh ngồi xe.”
            Mới bước vào nghề thì còn bợ ngợ, nhưng rồi “thuốc dạy thầy, cây dạy thợ”. Hơn nữa, có những bậc đàn anh, đàn chị trong nghề lúc nào cũng ở bên cạnh, sẵn sàng ra tay hướng dẫn và giúp đỡ. Anh chị em dạy cùng trường sống với nhau rất thân ái. Nhờ đó, chúng tôi thấy quen dần nề nếp và thích nghi với khuôn mẫu của nghề nghiệp.
Tình nghĩa thầy trò vẫn đong đầy và bền chặt hơn theo năm tháng và tay nghề cũng càng ngày càng vững vàng hơn theo từng bước thời gian. Thời xưa sao giáo dục nghiêm quá! Lớp nào cũng vậy, từ khi thầy cô bước vào, lớp học im phăng phắc, con ruồi bay ngang cũng nghe. Ra khỏi khuôn viên nhà trường, các học sinh lớn, cỡ lớp đệ tam, đệ nhị (lớp 10, 11 bây giờ) khi gặp bất kỳ thầy hay cô giáo nào cũng đều phải dụi điếu thuốc khi lỡ cầm trên tay. Nếp sống tình cảm, sự tôn trọng đó vẫn còn lưu giữ lại đến ngày nay dầu cả thầy trò đều già cả hết rồi. Cuộc sống đầy ắp tình nghĩa của học trò, sự giúp đỡ đùm bọc của các bậc anh chị trong nghề đối với chúng tôi sao sâu đậm nồng nàn quá. Tôi nhớ rất kỹ năm 1972, có lần chiếc xe Mobylette xanh đèn vuông của tôi bị “cầm nhầm”. Vì thương tôi phải “lặn lội thân bò” làm cua-rơ đường trường, vừa ra khỏi Tân Dân, lại bươn bả về Công lập, lên Phan Tôn dạy 13g rồi trở lại lại lớp đêm của anh “Năm Công” lúc mặt trời chen lặn, các anh Dương Văn Hai , Nguyễn Văn Tòng và Văn Ngọc Khôi kêu gọi anh em đồng nghiệp quyên góp tặng tôi món tiền tôi không nhớ bao nhiêu nhưng đủ sức mua chiếc Honda dame mới. Ba ngày sau, tìm lại được xe và tôi theo danh sách để tới nhà hoàn lại tiền và cảm ơn từng người giúp đỡ. Chuyện này, bên phía mấy chị không biết, vì chỉ quyên góp trong “thế giới nìn ông”. Những hình ảnh đẹp đẽ và quá khứ vàng son của thời xa xưa ấy luôn lẩn quất bên tôi. Sau 1-5-1975, đa số chúng tôi phải rời trường. Thôi, xa thật rồi, lòng man mác rười rượi nỗi bâng khuâng, tôi lẩm nhẩm mấy câu thơ của anh Huỳnh Ngọc Diêu:
                                    “Thôi bỏ đó, ngôi trường hoa phượng đỏ,
                                    Hành lang dài, ôi thương nhớ mông mênh,
                                    Thôi bỏ đó, học trò dăm đứa nhớ,
                                    Vài đứa thương và vạn đứa vô tình.
Thơ đơn sơ vậy mà thấy hay, thật là mênh mông nỗi nhớ khi biết mình không còn giữ mãi được hình bóng thân yêu của một thời.
Năm 1982, tôi lại “tái xuất giang hồ” với danh nghĩa “Pháp sư” (thầy giáo dạy tiếng Pháp), có dịp trở về Trường Trung học Kiến Hòa ngày xưa để chấm thi. Cảnh cũ còn đây, hàng cây si giữa sân, cây sộp trước phòng đánh máy dãy lầu A, cây nhàu còi cọc ở ngay trước hố nhảy tập thể dục trước Phòng Giám thị. Kẻ mất người còn, lòng tôi thấy tràn ngập nỗi niềm hoang vu khó tả:
                                    “Chân bước ngậm ngùi đường lối cũ,
                                    Lòng nghe hoang vắng bướm hoa xưa.”
Thời gian qua mau quá ! Bao năm rồi như giấc mộng. Chỉ còn lờ mờ trong tâm tư vài hình ảnh rất vui tươi. Trước hết, tôi xin lỗi các bạn có liên quan là chỉ nhắc qua mà không giải thích. Ai có thắc mắc thì cứ tìm tới chủ nhân để hỏi. Đó là món xúp si-noi (soupe chinoise: hủ tíu) ở một nhà hàng sang trọng trên đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn; chữ Mã y; cụp lạc nhất là “cuộc chiến vùng vịnh” xảy ra chớp nhoáng không đầy một phút ba mươi giây giữa hai người bạn thân là Trần Công Bình và Bùi Thanh Kiên năm 1972 chỉ vì nói lái.
Quyển sổ ghi đời của tôi cũng sắp sửa khép lại rồi, không biết chừng nào đây! Nhưng cái gì cái, tôi cũng vẫn lạc quan yêu đời tới phút cuối cùng của cuộc sống. Nhớ thuở nào, thầy hay cô giáo trẻ ngại ngần, ngượng ngùng nữa là khác, bước qua ngưỡng cửa vào lớp dạy ở độ tuổi đôi mươi mà giờ đây đã là người lưng còng gối mỏi. Có những anh chị đã vĩnh viễn xa đời trong lòng tiếc thương vô hạn của bạn lứa và học trò. Người còn ở lại, sống lâu chỉ làm khổ cho cái thân già vì những mối dây liên hệ tình cảm của chính mình với bạn bè bị mòn, đứt lần lần và người sống dai nhất sẽ mang tâm thức của tên tử tù bị lưu đày vào vùng đất xa lạ - nơi mà không ai biết mình là ai!

Thôi, đời là như vậy, rồi đây mọi thứ chỉ còn lại trong ký ức. Nhưng, đã sống thì sống cho đàng hoàng, nghĩa là sức khỏe phải tốt, theo dúng nghĩa chữ “thọ nhi khang” (tạm dịch: sống dai như đỉa nhưng còn đủ xí quách). Đừng sống kiểu chợt buồn chợt vui, “thương thương nhớ nhớ, mơ mơ hồ hồ”.  Cũng rất có thể lúc ngồi một mình lại bỗng dưng nhớ lại một hình bóng thân thương nào đó trong quá khứ nên bất giác nhoẻn miệng cười nhưng khổ nỗi, nụ cười nở chưa trọn vẹn thì hình bóng đó lại vụt phai mờ ngay trong tâm tưởng vì lẽ thần trí của mình đã khi nhớ khi quên. Báo hại lúc đó, mình lại ngẩn tò te, chẳng hiểu mình đã vì lý do gì mà ngồi cười lỏn lẻn một mình! Thật là vô duyên tới độ thấy ghét quá chừng chừng.


            

 Kính tặng Thầy Nguyễn Đăng Phu 

Kính chúc Thầy Cô một mùa Lễ Tạ ơn 2013 bình an và hạnh phúc.

Thầy Tôi
                        Thụy Mai
Có mấy lần
Trong đời
May mắn đến
Có được mấy lần vui.

Ôi! Đời tha hương
Vạn niềm buồn!

Thu sang bàng bạc một mầu
Yêu thương thắm đượm nỗi sầu chứa chan

Nhớ xưa những buổi trường tan
Thơ ngây áo trắng ngập tràn ước mơ
Áo trắng trường tôi
Áo trắng thầy tôi
Một màu tinh khôi!

Thầy tôi!

Vẫn thiết tha
Vẫn đậm đà
Sau bao năm
Cách xa

Nói làm sao
Nói làm sao
Hết nỗi sầu
Cách xa!

Chỉ biết nói
Lời thiết tha

Hãy giữ yên
Hãy giữ yên
Tấm thân ngọc ngà

Thầy ơi! Tuổi già!

Tuổi già qua mau…

Nhớ ngày nao!

Thầy tôi! 
Tuổi còn xuân
Quấn quít bên trò...

Bảo ban
Khuyên nhủ
Ngọt ngào
Ủi an...

Giờ thầy tôi

Tuổi già !

Vẫn bảo ban
Vẫn khuyên nhủ
Vẫn ngọt ngào

Vẫn thiết tha!

Vẫn thầm mơ một ngày về

Thầy tôi!

Vẫn mơ! Mơ ngày về 

Quấn quít quê hương 

Mơ được yêu thương 

Thầy ơi! Thầy ơi! Em cũng mơ. Em cũng mơ một ngày về!


(Lê Thị Dung , cựu học sinh Trường Trung học Công lập Kiến Hòa từ năm 1966 đến 1973).

Từ trái qua: Ngọc Nga, Trần Thu Dung, Lê Thị Dung (tác giả), Dương Thị Vui (đứng); Lê Thị Lâm, Chung Kim Ngân (ngồi).

08/12/2013

Tình nghĩa thầy trò


                                    
            Bùi Thanh Kiên

Mùa hè qua mau...


Tình nghĩa thầy trò là một quan hệ song phương. Nó đòi hỏi đôi bên đều phải có bổn phận với đối tác:
                        “Dạy trẻ khô buồng phổi,
                        Thờ thầy lụn nén hương
Ai muốn nghĩ vai trò và địa vị của thầy cô đối với đời mình như thế nào thì cũng tùy. Xem thầy cô như người thân thay quyền cha mẹ, anh chị để nhắc nhở bảo ban việc học tập rèn luyện bản thân thì tốt. Cũng có kẻ xem thầy cô như người lái đò :
                        “Trả công ông, để lại một vài xu,
                        Họ với ông hai cảnh đời xa lạ,
                        Sang sông rồi, không một tiếng phân ưu”
                                                (Ông lái đò – Hiếu Nghĩa)
            Vậy cũng tốt, không sao đâu! Khỏi cần vương vấn, luyến lưu làm gì, dầu đôi lúc thầy cô cảm thấy:
                        “Trọn đời làm kẻ đưa thuyền khách,
                        Thuyền chạy bơ vơ đứng với sông.”  (Thế Lữ)
Tôn sư trọng đạo là thứ tình cảm tự giác, không thuộc phạm vi kiểm soát và điều khiển của lý trí. Tôi nghĩ đây là tình cảm vì nó xuất phát tự trái tim chớ không phải là bổn phận vốn dĩ áp đặt, câu thúc từ xã hội. Lòng tôn sư trọng đạo không chỉ là sự kính trọng với các thầy cô trực tiếp dạy mình mà còn là sự tôn trọng thầy của bạn và bạn của thầy.
            Lòng mến mộ chân thật đó đã thể hiện rõ nét trong việc Phan Thanh Giản di dời mộ phần của cụ Võ Trường Toản về chôn ở đất nhà của họ Phan (thuộc làng Bảo Thạnh, huyện  Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Hai ông không liên hệ huyết thống mà cũng chẳng phải nghĩa thầy trò. Cụ Gia Định Sùng đức Võ tiên sinh mất năm 1792 thì mãi bốn năm sau (1796), cụ Phan mới sinh ra đời. Vốn mang lòng cảm cựu và kính yêu từ trái tim của một nho sinh đối với bậc thầy có tư chất thanh cao liêm khiết, Phan Thanh Giản không nỡ để mồ mả cụ Võ nằm trong vùng đất giặc tạm chiếm. Đốc học Vĩnh Long Nguyễn Thông được giao nhiệm vụ làm chủ tang cử hành việc cải táng. Ngày 2-5-1867, Phan Thanh Giản có soạn bài văn bia định khắc ở mộ Võ Trường Toản thì binh biến lại nổi lên. Thành Vĩnh Long mất ngày 28-6-1867 và cụ Phan mất ngày 4-8-1867. Việc khắc bia kéo dài tới năm 1872.
            Năm 1888, phong trào Cần vương thất bại, tên phản phúc Trương Quang Ngọc dẫn Pháp đánh thẳng vào căn cứ Tân Sở (Quảng Trị). Có tất cả sáu người bị Pháp bắt trong đó có Hàm Nghi. Nhà vua nhất định không chịu mình là Hàm Nghi. Có một tên Việt gian bày kế: “Hàm Nhi rất mực kính trọng thầy dạy. Khi còn là thái tử ở trong cung, khi thầy đến dạy, Hàm Nghi bao giờ cũng khăn áo chỉnh tề, lạy thầy rồi mới học”. Biết được như vậy, Pháp cho mời thầy cũ của vua Hàm Nghi là ông Nguyễn Thận quê ở Thanh Hóa đến. Vừa thấy bóng dáng thầy, Hàm Nghi quì xuống lạy ba lạy. Kết quả là Hàm Nghi bị đày sang Algérie và tới năm 1947 thì mất.
            Tinh thần tôn sư trọng đạo là phẩm chất cao quí nhất trong đạo làm người. Nhưng nó là lòng thương yêu và kính nể phát xuất từ cái tâm. Không dạy học trò ơn đức của thầy cô mà lại ép buộc chúng phải tôn trọng thầy cô là việc làm sai lầm. Những câu thúc, gò bó của xã hội đòi hỏi bổn phận một chiều như vậy, thiết nghĩ chẳng có giá trị và chẳng có tác dụng thiết thực nào cả.

Thầy Trần Kim Quế và bạn Kim Vững (phải ) tại Đức.
                                                                                                                            Sài Gòn, 20-11-2013.
            Tháng mười hai và em

            Trần Thị Thanh



            Người ơi,
                        Ngày đã tắt
                        Chút nắng vàng đã rụng xuống trên sông
                        Hàng cây bên đường xưa
                        Lá giờ đã khép
                        Nỗi nhớ nào dâng đầy như con sông
                        Chiều xuống
                        Chiều xuống dần
                        Mưa muộn về ngập tràn nỗi nhớ mong
            Người ơi,
                        Người có về,
                        Cho ta nghe gió xuân về ấm áp
            Người ơi,
                        Người không về,
                        Giá buốt bốn mùa, lá ngủ bốn mùa đông.


            Nhớ

            Này em, tháng mười hai
                        Nắng vàng,
                                    Hoa vàng,
                                                Ngập tràn khu vườn cũ.
            Em có về phố xưa?
                        Sương giăng,
                                    Ướt áo,
                                                Nhớ quá bàn tay quen,
                                                Nhớ con dốc thật dài.
            Để cứ mỗi lần qua,
                                                Em níu vào anh cho khỏi ngã.
                                                           

                                                                                          T.T.TH.