03/04/2013



Phóng sự

Những người đạp xe lôi cuối cùng
Phan Lữ Hoàng Hà

Nó đã từng là phương tiện chở khách trên bộ quen thuộc nhất ở miền Tây nhưng giờ ngày càng vắng bóng. Cũng không ai muốn kế thừa cái nghề cực nhọc này. Xe lôi đạp rồi sẽ thành ký ức.

Xe kéo tại chợ Bến Tre xưa


“HẬU DUỆ” CỦA XE KÉO, TIỀN THÂN XE ÔM
Nhà văn Trang Thế Hy, người quê Bến Tre, nay gần 90 tuổi, nhớ lại: “Trước năm 1945, tuy không nhiều nhưng nội ô tỉnh lỵ Bến Tre cũng có xe kéo. Những chiếc xe kéo có hai càng, kéo đi bằng sức người, chạy sòng sọc trên đường phố. Người phu xe có chiếc khăn quấn ở cổ để thỉnh thoảng lau mồ hôi, trông thật gian lao, tội nghiệp!”. “Xe kéo dành để chở người nhà giàu, người có chức có quyền” - tôi hỏi nhà văn, ông nói: “Ai đi cũng được, nhất là các sản phụ rất cần. Hồi nhỏ, tôi cũng có lần đi xe kéo với má tôi…”.
Năm 1945 là thời điểm bắt đầu xuất hiện những chiếc xe lôi đạp. Đồng hành với xe lôi đạp còn có xe xích lô, xe lôi máy (Follis) rồi xe lam. Thường xe lôi đạp, xe xích lô hoạt động nơi nội ô các đô thị ở miền Nam, còn xe lôi máy, xe lam, chạy xa hơn, như đi liên huyện chẳng hạn. Tiếng nổ của xe lôi máy rền rền, chạy đến đâu thì từ đầu xóm đến cuối xóm đều nghe, nó tựa như “sư phụ” của xe lôi đạp.
Xe lôi đạp ngày càng phát triển, thịnh hành. Tuy nhiên, sau năm Mậu Thân 1968, xe lôi đạp đã bắt đầu nhường khách cho Honda ôm. Honda ôm nói chung xuất hiện đầu tiên ở các đô thị miền Nam là xe Honda 50, Honda 67, Suzuki (đời cũ), Kawasaki (đời cũ)… và lác đác cũng có những chiếc Goebel (máy Sachs của Đức). Đặc biệt  từ sau năm 1968 đến gần giải phóng, cảnh sát công lộ chế độ cũ qui định tại đô thành Sài Gòn (nay là TP. Hồ Chí Minh), người ngồi sau xe Honda đang di chuyển buộc phải ngồi một bên, bất luận nam hay nữ (để chống cướp giựt trên đường phố). Với qui định này, các anh xe ôm là những người trước tiên phải chấp hành… Cũng giống như xe lôi đạp, sau năm 1975, Honda ôm càng phát triển mạnh và trở nên tiện ích cho mọi người. Duy chỉ có… xe đạp ôm (một thời ở Bến bắc Cần Thơ) là chết yểu.
Xe lôi đạp đắc dụng
Anh Huỳnh Thiệt Giỏi, người bạn cùng thời dưới mái Trường Trung học Kiến Hòa với tôi, đã có trên 30 năm sống nghề xe lôi đạp trước cổng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu - Bến Tre. Thuở học sinh, anh thường mặc áo ủi phẳng phiu, chân mang giày Ba ta, đầu tóc chải tém, rất đẹp trai. Nhưng rồi đời mỗi người mỗi phận, anh gắn bó đời mình với chiếc xe lôi đạp, trông anh thật phong trần so với bạn trang lứa. Anh kể: “Đời sống của gia đình tôi nào giờ chỉ biết trông cậy vào chiếc xe lôi. Nhưng bây giờ xe lôi rất vắng khách. Cuộc sống cứ như là chờ… sung rụng từng ngày!”.
Quả vậy, tôi ngồi nói chuyện trên trời dưới đất với anh Giỏi gần cả tiếng đồng hồ, vậy mà không thấy có người khách nào đến kêu anh chạy xe. Hai chiếc xe lôi đạp đậu kế bên anh cũng vậy, không có khách. Cả hai bác tài xe lôi ngã người trên xe của mình, thiu thiu ngủ.
Anh Giỏi tiếp tục câu chuyện, giọng lạc quan: “Có nhiều trường hợp xe Honda ôm, xe tắc xi không thể nào chở được bệnh nhân đâu. Ví như bệnh nhân băng bột khắp chân, bệnh nhân bị gãy xương sống, hoặc  là chở xác bệnh nhân trong đêm. Việc này thì xe lôi đạp luôn tỏ ra đắc dụng. Và đắc dụng hơn cả là xe lôi có thể đạp luồn sâu vào được các con hẻm nhỏ, kể cả đường vườn trong khi  taxi bó tay”. Anh Giỏi kể tiếp: “Có lần một bệnh nhân nghèo qua đời lúc nửa đêm, gia đình đã nhờ xe lôi chở về xã Hữu Định. Đường từ Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu đến xã Hữu Định khá xa nên trong  trường hợp này, anh xe lôi phải kêu thêm anh Honda ôm để trợ lực, xong việc sẽ chia tiền 3/7 cho anh Honda ôm ”. “Trợ lực là sao?”- tôi hỏi. Anh Giỏi nói rằng đạp xe lôi quá xa sẽ đuối sức, thêm nữa đi trong đêm đường sá tối tăm, cần anh Honda ôm sẽ tiếp sức, pha đèn cho xe chạy. Xong việc, trở về trong đêm với chiếc xe lôi vừa chở xác người, có hai người cũng ấm áp, yên lòng hơn. Còn với cánh xe taxi, họ sợ xui xẻo…”.
Trước năm 1995 là thời “hoàng kim” của nghề chạy xe lội đạp tại thị xã Bến Tre (nay là TP. Bến Tre) với trên 600 chiếc nhưng hiện giờ thì còn lại chỉ khoảng 60 chiếc. Tại cổng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, nơi xe lôi chuyên chở khách, ít chở hàng hóa, trước đây có trên 30 chiếc sắp tài với nhau, giờ chỉ còn lại bảy, tám chiếc, khách của ai người đó chờ. Những chỗ khác lèo tèo hơn nhiều. Tại Bến Lở còn hai, ba chiếc, ngã tư Tân Thành hai chiếc, chợ An Hòa, phường 8 vài ba chiếc, Chợ Giữa (Phú Hưng) hai chiếc… và một số đậu xe tại nhà chờ mối quen đến gọi chạy. Hầu hết những chiếc xe lôi trên đều chở hàng hóa, bàn ghế, vật liệu xây dựng…
Vào dịp Tết, đi chợ hoa xuân, muốn mua vài chậu hoa, kiểng đem về nhà mới thấy chiếc xe lôi cần thiết dường nào. Mặt khác, số tiền phải trả cho người đạp xe lôi xem ra cũng phải chăng. Anh Giỏi thì thầm: “Những người chạy xe lôi như tụi tôi bây giờ đã bước vào hàng…U 60 hết rồi. Cái tuổi tri thiên mệnh, khó mà thay đổi được gì nên phải ráng!”.
Xe lôi đạp chờ khách
Xe lôi đạp chờ chở hoa xuân.

Không mong truyền nghề
Anh Lê Văn Hai ngụ phường 5, TP Bến Tre đến với chiếc xe lôi đạp cũng cùng thời với anh Giỏi. Vợ anh Hai vốn là giáo viên (cô Võ Thị Vân, nay đã nghỉ hưu) dạy học ở Trường Tiểu học xã Phú Hưng và sau đó là Trường Tiểu học phường 6, thị xã Bến Tre. Cuộc sống khó khăn, vất vả, vợ chồng anh quyết định chỉ có một đứa con. Con trai của anh chị là  Lê Quốc Tuấn, sinh năm 1987. Hoàn cảnh khó khăn nhưng Tuấn rất hiếu học, lại học giỏi. Tuấn học ở Trường Trung học phổ thông Chuyên Bến Tre (chuyên môn sinh). Với ngôi trường chuyên này, việc thi đậu vào đây là rất khó và là niềm mơ ước nhiều phụ huynh học sinh tại tỉnh. Nhưng với Tuấn, khi thi vào trường này, Tuấn đã đậu với hạng giỏi làm cho cả khu phố đều bất ngờ. Bất ngờ vì Tuấn là con của người chạy xe lôi đạp và rồi càng bất ngờ hơn nữa là lúc Tuấn học lớp 12 ở Trường Trung học phổ thông Chuyên Bến Tre, Tuấn là học sinh giỏi vòng toàn quốc môn sinh nên vào năm 2005 Tuấn được tuyển thẳng vào Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
Anh Hai tâm sự: “Đời mình đã quá nhọc nhằn nên vợ chồng tôi cố gắng nuôi con ăn học để sau này nó có một cái nghề không vất vả như cha. Biết cháu học giỏi, gia đình chúng tôi khó khăn, ngay khi cháu học năm thứ nhất, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo và người tàn tật tỉnh Bến Tre đã cấp học bổng 200 euro cho cháu. Tôi rất cám ơn Hội và lòng tốt của một số bạn hữu khác của tôi đã hỗ trợ, giúp đỡ cháu. Còn bằng như không có gì mà nó ham học như vậy, nếu phải bán nhà để lo cho nó ăn học thì tôi cũng làm”. 
Lê Quốc Tuấn năm nay là sinh viên năm thứ 5 Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Về Bến Tre thăm cha mẹ hồi gần đây, Tuấn nói là sau năm thứ 6, Tuấn vẫn có khả năng ở lại trường để tiếp tục học 3 năm chuyên khoa nội trú để sau đó ra trường là thạc sĩ, bác sĩ. Mà muốn được học chuyên khoa nội trú thì phải là một sinh viên khá, giỏi.
Từ đầu năm 2003, vì bị bệnh, anh Hai không còn đạp xe lôi ở bến trước cổng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu. Mấy năm rồi, sức khỏe của anh sa sút, nước da ở anh ngày càng nhợt nhạt hơn. “Nghe nói anh Hai bị bệnh đau đường ruột nên giã từ nghề xe lôi?”- tôi hỏi. Ngồi trên giường bệnh tại nhà, bỗng anh đứng lên, vén áo cho tôi xem ống nước tiểu đeo bên hông, anh nói: “ Tôi bị u xơ tuyến tiền liệt… Ông hỏi thì tôi nói thật, để ông viết báo. Nhưng viết báo là viết về đứa con của tôi, nó đã cố gắng trong học tập và đó là an ủi lớn nhất đối với vợ chồng tôi, chớ không phải tôi “kể khổ” để mong có được sự giúp đỡ nào đó nghen. Cháu Tuấn đọc báo nó sẽ buồn. Nó muốn tự thân phải vượt qua mọi nghịch cảnh…”.
Ngồi lại xuống giường bệnh, anh Hai bình thản: “Nhờ vào chiếc xe lôi mà hơn 20 năm tôi đã nuôi sống bản thân và lo cho con ăn học. Nhưng trên đời này có những nghề ta cũng đừng cần đến sự kế thừa, như nghề đạp xe lôi của chúng tôi”.
Không như những nghề khác con nối nghiệp cha, nghề xe lôi đạp hiện nay hầu như không có truyền nhân, không có trai trẻ mà chỉ còn lại những người ở hàng U-50, U-60, kể cả U-80 cũng có. Và rồi ngày ngày họ vẫn… gò lưng, lẩn khuất đâu đó giữa phố phường.
P.L.H.H. 

Nhớ về kỷ niệm xưa

Huỳnh Trọng Nghĩa

Trong cuộc đời mỗi người, ai cũng có một thời để thương, để nhớ, nhất là nhớ về những kỷ niệm của tuổi niên thiếu đã qua, trong đó có ít nhiều kỷ niệm đẹp của tuổi học trò. Tôi cũng không ngoại lệ.
Thuở đó, tôi là một học trò nghèo ở vùng quê Sơn Hòa, cách trung tâm thị xã Bến Tre khoảng 9 cây số. Cha mẹ tôi đã thoát ly đi hoạt động cách mạng. Tôi nhờ sự đùm bọc, chở che của ngoại, được đi học và may mắn thi đậu vào lớp đệ thất, Trường Trung học Công lập Kiến Hoà. Vậy là ngoại phải nhín tiền để may cho tôi mấy bộ đồng phục: quần tây xanh, áo sơ mi trắng.
Trước ngày khai trường, một tay tôi ôm giỏ đệm áo quần, một tay xách bịch gạo, trong đó có keo tép rang mặn để ăn cơm, từ biệt quê nghèo với gương mặt ngơ ngác… của vô số lúa (hai lúa đã là ngon rồi).  Tôi về Thị xã ở trọ tại nhà người bà con. Tôi được thầy cô khen là học sinh chăm ngoan, nhưng đúng ra tôi chỉ là một cậu bé quê mùa. Trong những ngày đầu bỡ ngỡ vào trường gặp thầy cô, bạn bè đều mới, đặc biệt có một hôm tôi bị trễ học. Khi vào lớp, cô giáo hỏi tôi lý do trễ học, mặt tôi đỏ lựng, miệng lắp bắp không biết nói thế nào. May thay, cô giáo chỉ nhắc nhở chung và cho về chỗ.
Mãi sau này, một số bạn chí thân của tôi mới hiểu rõ lý do tôi đi trễ: Tôi là cậu bé quê vừa đi học tiểu học, vừa chăn trâu, mọi ngày chỉ quen đi chân đất. Đến khi đi học mặc đồng phục nhưng tôi cũng vẫn đi chân đất đến trường, giữa đường chợt nhớ, chạy bộ trở về nhà trọ lấy dép nên bị trễ giờ học.
Rồi thời gian vùn vụt trôi qua, tôi cũng trải qua các lớp thất, lục, ngũ, tứ. Chiến tranh cuốn tôi đi theo sự nghiệp chung của dân tộc, bạn bè ly tán, tôi không kịp từ giã thầy cô. Mãi đến sau ngày 30-4-1975, tôi mới có dịp trở lại mái trường xưa, tìm gặp được một số ít thầy cô và bạn bè ngày cũ.
Cho đến một ngày gần cuối năm 2007, tôi được thông báo trước là sẽ được dịp gặp lại thầy hiệu trưởng cũ của mình: thầy Trần Kim Quế. Tôi còn nhớ như in: hôm đó, tôi đón lấy cái bắt tay và giữ lại rất lâu, thầy nhìn tôi bằng đôi mắt đầy xúc động đến rưng rưng khi tôi đưa thầy chiếc thẻ học sinh của tôi ghi niên khoá 1967-1968, đóng dấu và ký tên bên dưới: Hiệu trưởng Trần Kim Quế. Đó là chiếc thẻ học sinh mà tôi đã giữ bên mình như một báu vật suốt 40 năm qua. Trái tim tôi như đập chậm lại và có cái gì như nghẹn ngang ở cổ. Tự nhiên mắt tôi nghe cay cay… khi thầy thảng thốt kêu lên: Trời ơi! Làm sao mà em còn giữ được kỷ vật này? Trong phút giây vỡ oà xúc động, thầy trò chúng tôi chỉ còn biết nắm tay nhau, siết chặt.
     “Đi bốn mươi năm - gặp lại thầy
Đang vui sao mắt bỗng rưng cay
Thầy ơi! Đường đời dù vạn nẻo
Mãi nhớ ngày kỷ niệm hôm nay!”

Nhóm Hương Sống Trường THCL Kiến Hòa.

02/04/2013




        Đời người – Đời chợ

Huỳnh Thị Kim Anh

Nhà lồng chợ Bến Tre xưa


Đời người rồi sẽ già đi nhưng những ngôi chợ cứ như cô gái xuân thì phơi phới lớn lên cùng thời gian. Trầm mặc và hiện đại. Thăng trầm và đổi thay. Những người đã biết, đã thấy ngôi nhà lồng đầu tiên ở tỉnh lỵ Bến Tre và cho đến nay là hệ thống Siêu thị Co.op Mart, những chứng nhân đó nay tuổi đã ngoài 80.
Chợ ngày xửa ngày xưa
Ông Bùi Văn Quế, nay 83 tuổi, ngụ tại phường 4, TP Bến Tre, hồi tưởng: “ Năm tôi 6-7 tuổi, tức năm 1936 -1937, tôi thấy đã có nhà lồng chợ Bến Tre rồi. Chính xác hơn, những người lớn tuổi hơn tôi nói rằng chợ đã cất lên từ năm 1905”.
Trước khi cất lên ngôi nhà lồng đầu tiên ở Bến Tre (đối diện với Đình An Hội hiện nay), người ta tề tựu, mua bán ở bên bờ sông Bến Tre, hầu hết là nông sản của nhà vườn hay hàng hóa đối lưu từ các vùng đất lân cận mang đến đây bằng tàu ghe. Họp chợ chỉ diễn ra trong buổi sáng là xong…Khi nhà lồng chợ Bến Tre được cất lên vào năm 1905, nhà lồng cất theo kiến trúc của Pháp, vách tường dày 40 cm, mái lợp ngói đỏ, hai bên vách tường được trang trí với các hoa văn bằng gốm nung màu xanh và vàng. Phía trên cao của nhà lồng là một cái đồng hồ to, giờ ghi bằng số La Mã... Hình ảnh gieo đậm vào ký ức của ông Bùi Văn Quế là gần khu nhà lồng chợ Bến Tre có bến Tắm Ngựa. Muốn đến bến Tắm Ngựa, xe thổ mộ, xe ngựa chở cá, nông sản lốc thốc đến ngã ba chùa Viên Minh, rẽ qua đường Chùa ( rue de La Pagode, chế độ cũ là đường Trạng Trình, hiện nay là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng người ta quen gọi là đường Hoa Mai), xuống mé sông Bến Tre, bến Tắm Ngựa ở đó với bến xuống được tấn bằng đá ong. Ông Quế giải thích: “Sáng sáng, xe ngựa từ các quận tựu về tỉnh lỵ Bến Tre. Đây là chỗ dành cho các chú ngựa tắm mát, ăn cỏ, xả hơi rồi quay về…”. Dọc bờ sông ở đoạn này, có một nghề mà nay không còn nữa, đó là nghề nhuộm đồ. Thời này, hầu hết người dân mặc vải ta, để duy trì cho vải được mặc lâu và mới, người ta đem nhuộm lại với các màu tối như màu nâu, màu đen, màu xanh dương.
Tại ngôi nhà lồng chợ, bên trong, dành cho những kệ, quầy có đóng ba-tăng (môn bài), còn phía ngoài sân là nơi dành cho người bán nông sản, họp tan, để thu thuế hoa chi. Sau đó, nhà việc của làng An Hội cất lên ở khu này. Đến năm 1945, khi Việt Minh giành chính quyền, nhà việc bị xóa bỏ. Năm 1947, một ngôi nhà lồng mới thứ hai của chợ Bến Tre được cất lên ở đây, chủ yếu là các quầy bán lúa, gạo, cám nhuyễn, cám to, cám dừa, quầy bán thịt heo, thịt bò…Đến năm 1968, cả hai nhà lồng đều bị bom Mỹ đánh sập. Sau năm 1968, chế độ cũ chỉ khôi phục lại một ngôi nhà lồng – nhà lồng đầu tiên đã xây dựng hồi thời Pháp.
Ký ức chợ “vệ tinh”
Tỉnh lỵ Kiến Hòa (Bến Tre) trước năm 1975 thuộc xã An Hội, quận Trúc Giang (quận Châu Thành trước kia). Xã An Hội gồm ấp Chánh (trung tâm TP Bến Tre hiện nay) và các ấp ngoại ô gồm ấp Phú Khương 1, 2, ấp Mỹ Hóa 1,2, . ấp Bình Nguyên, ấp An Hòa và bên kia sông Bến Tre là ấp Mỹ An…Sau giải phóng, khi thành lập thị xã Bến Tre, các ấp của xã An Hội cũ đều được nâng lên thành các phường, xã. Thị xã Bến Tre lúc này gần 50.000 dân.
Thời trước năm 1975, dân số tỉnh lỵ Kiến Hòa (Bến Tre) khoảng 50.000 dân. Các ngôi chợ “vệ tinh” tại tỉnh lỵ như chợ Giữa (xã Phú Hưng), chợ Ngã Năm (phường 5), chợ Ngã Ba Rùa (phường 7), chợ Cầu Bà Mụ (phường Phú Khương), chợ Ngã Ba Tân Thành (phường Phú Tân), chợ Bình Nguyên (phường 6)…, trong đó chỉ có chợ Giữa và chợ Ngã Năm là có ngôi nhà lồng nho nhỏ với mái lợp tôn, nền tráng xi măng, tứ phía trống trơn. Dù nhà lồng nhỏ, nhưng đây cũng là điểm thuận lợi để đón các đoàn hát bội, mô tô bay đến hát, biễu diễn. Còn các chợ khác hầu hết là chợ chồm hổm, chủ yếu bán đồ hàng bông, cá tép trong vườn mang ra, với lèo tèo vài ba ghế bán thịt heo; chợ họp khi nắng vừa lên đã tan. Nhưng vào thời này, chắc chắn rau cải là nông sản sạch, không nhiễm thuốc trừ sâu. Tiếng rao trong đêm cũng thật ấn tượng. Đêm khuya khoắt, vậy mà vẫn còn tiếng của xe mì gõ, tiếng rao của chị bán chè thưng cứ vang đều, thả dài trong lòng hẻm. Nhưng với chợ Giữa, đặc sản là thịt ngựa - những con ngựa nay không còn đến bến Tắm Ngựa nữa, già cỗi và rồi mất dần theo thời gian…
Đường từ  Mỏ Cày đến Bến Tre
Một góc chợ Bến Tre trước năm 1975
Siêu thị CO.OPMART Bến Tre.

Chợ ngày nay
Năm 1986, Bộ Nội thương đầu tư xây dựng nơi ngôi nhà lồng Bến Tre thành Trung tâm Thương mại Bến Tre, đây là một công trình mang vóc dáng hiện đại, đồ sộ ở đồng bằng sông Cửu Long vào thời điểm đó. Đến năm 2000, dân số toàn thị xã Bến Tre đã gần 100.000 người. Để mở rộng việc mua bán, phục vụ nhu cầu phát triển xã hội, ngôi chợ Phường 3 được xây dựng (hoàn thành năm 2001) gần Trung tâm Thương mại Bến Tre. Ngôi chợ này còn đồ sộ hơn Trung tâm Thương mại Bến Tre, nghiễm nhiên trở thành chợ trung tâm của tỉnh. Để cạnh tranh, năm 2004, Trung tâm Thương mại Bến Tre được đầu tư “cải trang”, tạo nét bề thế hơn như hiện nay. Suýt nữa lại quên, những năm gần đây tại TP Bến Tre còn xuất hiện một chợ đầu mối. Chợ đầu mối này nằm dưới chân cầu Cá Lóc (phường 8), chủ yếu bán hàng nông, thủy sản, giá cả bán ra sát hơn nhiều so với chợ phường 3.
Giờ đây, các ngôi chợ nở ra ở các phường, xã đã lớn dần theo nhịp độ phát triển của thành phố trẻ Bến Tre. Đặc biệt vào năm 2008, khi cầu Rạch Miễu hoàn thành, Siêu thị Co.op Mart Bến Tre đã đón đầu và đi vào hoạt động với lượng khách đến tham quan, mua sắm hàng ngày khoảng 3.000 người, những ngày lễ tết 7.000 - 8.000 người. Đây cũng là lần đầu tiên người dân xứ cù lao biệt lập tiếp cận siêu thị với thang cuốn, với cung cách mua bán văn minh, hiện đại…Có thể, một đời người mới thấu đáo hết mọi thăng trầm và đổi thay của đời chợ./

Thầy của tôi



               Võ Thị Kim Vững

Ga buồn tỉnh lẻ - gần nhà thầy Quế ở Wachenheim, Đức.


N
gày tôi vừa vào học lớp 12 Ban A, khi xem danh sách giáo sư dạy lớp thì cả lớp vừa mừng vừa lo, vì môn Sinh vật là môn “chủ lực” lại được thầy Hiệu trưởng Trần Kim Quế phụ trách. Mừng vì có thầy giỏi dạy thì lớp sẽ đậu nhiều, lo vì thầy Hiệu trưởng nghiêm quá, chắc khó bề tính chuyện “nhứt quỷ nhì ma”.
Tiết học các môn khác thì không biết thế nào chứ đến giờ thầy tôi ung dung bước vào là tất cả im phăng phắc đến chiếc lá rơi còn có thể nghe được. Có lẽ do ý thức được năm thi, nhất là thầy Hiệu trưởng dạy môn chính nên “lũ tinh quái 12A5” lúc nào cũng thuộc bài. Cách dạy của thầy chậm rãi, dễ hiểu. Bọn con trai lớp tôi rất sợ học bài và hay phá phách trong các giờ khác, nhưng sao đến giờ của thầy các bạn ấy ngoan như những chú cừu. Khi dạy đến cuối học kì một, thầy tôi có việc chi đó trên Ty Giáo dục nên để cho thầy Phan Thế Chánh dạy tiếp. Tôi còn nhớ như in, khi nghe thầy Quế sắp hết dạy, lớp tôi buồn vô hạn. Bài cuối cùng thầy dạy, chúng tôi rất chú ý nghe giảng và thật may mắn: khi thi Tú tài II , đề thi đúng y chang bài của thầy dạy ngày hôm ấy. Câu ấy là câu cao điểm nhất lại nhân hệ số 3, nên tôi đậu năm đó cũng nhờ một phần “trúng tủ” môn của thầy.
Thắm thoát hơn 30 năm, thầy trò chúng tôi gặp nhau bên trời Âu. Thầy tôi sang định cư bên Đức theo diện đoàn tụ với con. Tôi may mắn có hai cô em gái là Tường Vi và Kim Vàng cũng ở gần thầy cô Trần Kim Quế. Khi tới nước Đức, tôi được cấp visa đi ba tháng nhưng tôi chỉ ở vỏn vẹn có một tháng mười tám ngày rồi bay về Việt Nam. Trong bốn mươi tám ngày bên trời Âu đó, tôi đã hạnh phúc ở chung nhà với thầy cô hết hai mươi mốt ngày.
Cuộc sống của thầy cô tôi thật bình yên. Thầy tuổi đã cao nhưng rất khỏe. Có hôm tôi đi bộ tập thể dục với thầy, do mải mê kể chuyện trên trời dưới đất với thầy nên tôi đã đi một đoạn đường khá xa. Lúc đầu băng ngang một rừng nho bạt ngàn, đã là “rừng” thì nó rộng cơ man nào kể cho xiết, hết rừng nho là đến khu dân cư, thầy dẫn tôi vào làng cho biết. Sau đó, đến một thung lũng có hoa đẹp rực rỡ, tôi thích lắm cứ hăng say nói chuyện. Do đi quá xa, “anh hùng” lúc này nghe thấm mệt, mồ hôi tôi ra như tắm, áo khoác tôi đã cởi ra vắt vai, tôi thành thật “khai báo “với thầy:
- Về đi thầy, em mỏi giò lắm rồi!
- Thanh niên gì yếu vậy? Thầy tính dẫn em lên đồi ở trên kia kìa. Đồi ấy là khu du lịch đẹp ở nơi đây, ai đến nơi này mà chưa lên tham quan đồi ấy thì xem như chưa đến Bad Durkheim đó nhe...
Nghe qua, tôi muốn xỉu và cứ nằng nặc đòi về, có lẽ do không chuẩn bị giày thể thao nên chân tôi bị phồng giộp. Cảm thương cho cái thân “mẹo dậu” của tôi nên thầy đồng ý quay về (lúc này tôi đã xách giày vì không đi nổi nữa). Đang đi được vài bước, tôi bỗng sực nhớ nên thảng thốt la lên, làm thầy tôi cũng hết hồn:
- Trời! Bây giờ, mình phải đi về một đoạn đường mà nãy giờ em với thầy đã đi đó hả thầy (với chân trần không giày)?
- Vậy chớ sao, nãy giờ em thấy có xe cộ gì đâu!
- Trời! Chắc chết !
- Ráng đi, để thầy dẫn đi đường tắt, về nhà gần hơn!
Nghe đường tắt, tôi cũng mừng nên lê bước chân “độc hành” đi theo ông thầy. Bà cố ơi! Tắt đâu mà tắt, đi hoài, đi mãi... Trông cho có một chiếc taxi, giá bao nhiêu tôi cũng đi nhưng vô vọng, không một bóng người, chỉ toàn rừng nho là nho... Khi Tomy qua đây, đi vào ban đêm, nhưng Tomy cũng nhận định được nơi thầy ở là có rừng nho.
Vừa đi, thầy lại bắt tôi kể chuyện về những đồng nghiệp cũ của thầy đang ở Bến Tre hoặc ờ Sài Gòn, từng học sinh của trường, nào Thọ Lương, Kỳ Trân, Tomy, Kim Liêng, nhớ cả Minh Tiên kẹo dừa và thầy cầu mong tất cả được phát tài là thầy vui. Thầy nhớ không sót một người nào, từng hoàn cảnh khốn khó của Lê Văn Hai, của Nguyễn Văn Phia, của dì Sáu Lòng...Tất cả những người thầy nhắc, thầy hỏi, tôi kể cho thầy nghe. Thầy tư lự rồi thở dài làm tôi cứ tưởng như chính cuộc đời của thầy trong từng hoàn cảnh ấy.

Thầy Quế, cô Yến và Kim Vững (phải).

Lắm lúc tôi sợ thầy bận tâm lo lắng sẽ ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe, nhưng những câu hỏi thầy đặt tôi cứ kể. Kể riết mà đôi chân trần trên cát của tôi đã về đến nhà khi nào tôi không hay, khi thấy thấp thoáng mái ngói nhà thầy là tôi mừng khôn xiết, tôi bỏ thầy chậm rãi đi về một mình. Tôi nhanh chân chạy vào nhà “méc” cô Yến và kể chuyện thầy dẫn đi “đường tắt” làm cả nhà Phương Linh cười một trận ra trò.
Nhà thầy có một khu vườn trồng rau xanh nho nhỏ dễ thương, nào cà, tía tô, khổ qua, dưa leo, mướp... Tôi qua vào mùa Hè nên hoa lá xanh um. Thầy khoe từng khóm cây của thầy Diệp Đồng Thìn tặng, từng bụi ớt hiểm trái nặng trĩu cành, khổ qua treo lủng lẳng ngoài balcon thật sai trái. Đang xem, tôi thấy có những cái lon sữa bò thầy đặt dưới mỗi gốc cây, hỏi ra mới biết lũ sên bên ấy cắn phá quá nên nghe người ta nói để lon sữa bò rồi bỏ dưa leo vào lon, sên nghe mùi nó sẽ bỏ đi không phá hoại cây nữa. Tôi hỏi có đúng vậy không, thầy cười thật hiền rồi bảo:
- Mỗi sáng, thầy ra thấy sên bò vô lon ăn hết dưa leo rồi vẫn tiếp tục phá...
Thầy tôi là vậy đó. Tôi đã muốn kể về thầy khi còn ở bên nhà Tường Vi, nhưng cứ bận rộn mãi. Đến nay, mùa Đông tới đầy giá rét, thầy cô tôi chắc nhớ hơi ấm quê nhà, nhớ tình thân bạn hữu, nuối tiếc vì một số đã “ra đi”, nhớ học trò nay cũng đứa còn, đứa mất.
Cô Yến vẫn thường liên lạc với tôi qua mail, lâu lâu vắng thư, thầy nhắc cô Yến mail hỏi. Tôi vẫn cảm thấy có lỗi mỗi khi nhận thư cô hỏi thăm trước. Những điều chi buồn phiền, tôi đều bặt tin. Khi có chuyện vui vui trong nhóm, tôi mới hăng say kể chuyện và liên tục gởi hình.
Thầy vẫn nói:
- Nhờ có Vững kể chuyện và gởi hình, thầy như được sống với bạn bè và học trò.
Trước mỗi lần họp mặt hay Trung thu hoặc về Bến Tre gói bánh tét, thầy đều dõi trông theo và gởi lời thăm từng người, còn dặn dò:
- Em nhớ nói cho thầy thăm tất cả, nhớ uống dùm thầy một ly nước. Ngày họp mặt dịp Trung thu, nhớ ăn dùm thầy một miếng bánh!
Thầy của tôi là như vậy đó! Mấy lần tôi muốn rời xa nhóm là tôi lại nhớ lời thầy dặn: Đừng bỏ nhóm mà đi, chừng nào không còn thầy nữa, hẵng tính nhen Vững.
Những ngày cuối sắp rời xa nước Đức, tôi lại có hạnh phúc được ở nhà của thầy cô Trần Kim Quế. Biết tôi không ăn được món Tây, nên có buổi sáng thức dậy thầy tìm đâu ra được cá kèo kho tộ và có hôm thầy còn làm cả món mắm chưng hột vịt ăn với dưa leo mới hái ngoài vườn vào giòn rụm. Tôi cứ hỏi liên tục là ở đâu thầy có mấy món này, vì món Việt bên trời Âu là mắc vô cùng. Có những buổi trưa, tôi với cô Yến trở về nhà thầy bằng xe lửa, khi bước vào nhà đã nghe mùi khoai lang luộc. Thầy đã mua và luộc sẵn để đãi tôi. Tôi đã chụp một tấm ảnh khi thầy đứng bên nhà ga xe lửa và thầy còn nói:
- Nơi thầy ở là “ga buồn tỉnh lẻ”!
Ngày tôi soạn hành lý về Việt Nam, thầy gói ghém đủ thứ cho tôi mang về, từng đôi giày thể thao, từng món tôi ăn khen ngon và cả cái áo ấm thật đẹp. Tôi chỉ xin nhận cái áo vì vali không còn chỗ. Thầy cô và các em tôi đưa tôi ra phi trường trở về Việt Nam. Tôi về mà lòng nặng trĩu, thương thầy cô mình sống xa cố hương, thương các em tôi đường về xa diệu vợi. Tôi luôn ước mong mọi điều thật bình yên, thật vui và hạnh phúc đến với NGƯỜI THẦY của tôi!
                                                                                                                     15-01-2013.                                                                                                                                         


VÀI NÉT VỀ TRƯỜNG TRUNG HỌC KIẾN HOÀ

Bùi Thanh Kiên


Ngày xưa, các tỉnh miền Tây chỉ có hai trường trung học: Trường Collège Le Myre de Vilers tức là Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho bây giờ và Trường Trung học Cần Thơ. Ở Sài Gòn có Trường Pétrus Ký và Trường Gia Long. Cả bốn tỉnh: Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công, Tân An đều phải thi vào lớp đệ thất của Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Trường chỉ tuyển khoảng 500 học sinh cho 10 lớp. Thi vào đã khó, cha mẹ học sinh phải khó nhọc hơn nữa để chạy tiền lo gạo cho con đi học suốt mấy năm trời. Các gia đình nghèo không kham nổi việc học hành quá tốn kém của con. Thông cảm hoàn cảnh đó, thầy thanh tra tiểu học Nguyễn Văn Trinh xin phép mở trường trung học cho tỉnh nhà và tổ chức kỳ thi tuyển vào lớp đệ thất đầu tiên. Kết quả được công bố sáng ngày 23 tháng chạp âm lịch năm 1954. Sĩ số thu vào khoảng 150, dành cho 3 lớp đánh theo thứ tự A, B, C. Lớp A dành cho nữ sinh, lớp B và C là nam sinh. Vì lớp A sĩ số ít nên các nam sinh tuổi nhỏ và nhỏ con như anh Đỗ Quang Trường, Nguyễn Khắc Hải, Tạ Trung Quan được đưa qua bổ sung. Ba phòng học của Trường Tiểu học Phan Thanh Giản ở mặt tiền đường Đồng Khởi (ngày nay) được trưng dụng để làm 3 lớp đệ thất. Đồng phục là áo bà ba trắng, nam sinh mặc quần trắng, nữ sinh mặc quần đen. Phù hiệu là miếng nỉ đen hình bầu dục thêu 3 chữ THB (tức là Trung học Bến Tre) bằng kim tuyến. Dưới hàng chữ là một chấm kim tuyến dành cho lớp đệ thất, hai chấm dành cho lớp đệ lục. Tới năm tôi học đệ ngũ, trường thay phù hiệu trên bằng phù hiệu kim loại có mang hình quyển sách và bó đuốc với hàng chữ Trung học Kiến Hoà. Thầy Nguyễn Văn Trinh là hiệu trưởng đầu tiên. Quí thầy cô dạy lớp đầu tiên phần đông ở tại tỉnh. Thầy Nguyễn Duy Oanh (Văn), thầy Nguyễn Văn Vân (Toán), thầy Nguyễn Văn Nho (Pháp văn), thầy Thượng Công Kế, thầy Nguyễn Siên, thầy Nguyễn Tri Tôn, thầy Nguyễn Văn Thắng, cô Liên (Thể dục).
Năm sau, trường mở 4 lớp đệ thất, giáo sư có thêm thầy Võ Văn Dung, cô Lê Thị Sâm (Pháp văn), thầy Đặng Vũ Hoãn (Văn), thầy Trần Đình Đạt (Toán), thầy Huỳnh Gia Đức, thầy Trịnh Huế, thầy Ngô Thanh Sơn, thầy Trần Minh Trung. Tới năm chúng tôi học đệ tứ, lực lượng giáo sư mới thật sự đông đảo với thầy Phạm Đình Phi, thầy Phạm Đình Đằng, thầy Phạm Đình Tiếu, thầy Đào Văn Sơn, thầy Đào Nhường, thầy Khải, thầy Tạ Ngọc Minh, thầy Văn,…
Người gây ấn tượng lớn lao, sâu đậm trong đời học sinh chúng tôi chính là thầy Hiệu trưởng đầu tiên. Tôn chỉ giáo dục của thầy là dạy cho học sinh lễ và trí. Ngay cổng trước của nhà thầy có câu đối:
Ra cửa dạy trò văn hoá mới,
Vào nhà khuyên trẻ lễ nghi xưa.
           Ý hướng mục tiêu giáo dục nầy, năm 1972, anh Nguyễn Đăng Phu lặp lại trong câu đối:
           Hàm dưỡng nhân luân minh tuấn đức,
           Hoằng khai khoa học tác tân dân.

Cặp câu đối được chạm khắc theo nét bút của bác Nguyễn Kim Anh, tiệm Đông dược Đồng Xuân Các.
Để thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo, thầy Hiệu trưởng dẫn chúng tôi đến thắp nhang phòng thờ Giáo sư Tiền vãng, một phòng ở gian giữa trên lầu 1 của trường tiểu học. Phòng bày biện đơn sơ, chỉ có một bảng gỗ khắc tên các bậc thầy cô quá cố, hai bên có câu đối tôn vinh bổn phận của thầy và trò:
Dạy trẻ khô buồng phổi,
Thờ thầy lụn nén hương.
Sau nầy, thầy vận động lập Miếu Thờ Thầy (còn gọi là Ân Sư Từ) vào năm 1972. Đối với các môn sinh, thầy bao giờ cũng coi họ như con, sẵn sàng giúp đỡ và lo lắng cho đời sống. Tôi nhớ rất rõ, trong năm học 1956-1957, lúc còn làm Trưởng ty Tiểu học kiêm Hiệu trưởng trung học, thầy đến 3 lớp đệ ngũ hỏi xem có người nào muốn ra dạy học với ngạch trật của một giáo viên tiểu học phụ khuyết thì thầy bổ nhiệm ngay. Lớp tôi, lớp đệ ngũ C lúc đó, có các anh Mai Văn Giàu, Dương Văn Phối, Bùi Văn Sửu đi theo hướng đó và theo nghề đến tuổi hưu.
Lúc đó, Trường Trung học Kiến Hoà chỉ được phép mở cấp 2. Mùa hè năm 1958, sau khi tốt nghiệp trung học đệ nhất cấp, chúng tôi phải rời trường để sang Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho học lớp đệ tam; năm kế tiếp cũng vậy.
Năm 1972, trường đổi tên là Trường Trung học tổng hợp Lạc Long Quân, có thêm các lớp dạy nghề như thêu may, nấu ăn, đánh máy…
Năm 1975, khi miền Nam được giải phóng, trường chính thức mang tên Trường Phổ thông trung học Nguyễn Đình Chiểu, rồi đổi thành Trường Trung học phổ thông chuyên Bến Tre.

01/04/2013

Cổng Trường Trung học Kiến Hòa theo thời gian



Nhóm PV

      Nằm bên cạnh bờ hồ ( Hồ Chung thủy, Hồ Trúc giang), từ năm 1954 cho đến sau năm 1975, cổng Trường Trung học Kiến Hòa có nhiều thay đổi. Chúng tôi không nhớ chính xác những cánh cổng kia được xây dựng và hiện hữu từ năm nào đến năm nào. Ở đây, bằng trí nhớ của mình, chúng tôi chỉ sắp xếp các cổng theo thời gian. Tuy nhiên, có một điều không hề đổi thay, đó là vị thế của một ngôi trường công lập luôn giàu thành tích giáo dục trong mọi thời.
      Được biết vào năm học tới (2013 - 2014), Trường THPT Chuyên Bến Tre sẽ dời đến cơ sở mới khang trang tại phường Phú Tân, TP Bến Tre.
   


NHỚ BÁT CANH CÒNG


Nhóm BT: Bài thơ "Nhớ bát canh còng" được anh Phan Văn Lá sáng tác năm 1974, đăng lần đầu trong tuyển tập Đồng Vọng 6. Hôm nay, đọc lại bài thơ nầy, tôi không khỏi bùi ngùi, ứa nước mắt. Khi tôi được sinh ra thì bà ngoại tôi đã qua đời, tôi chỉ được nhìn hình bà ngoại trên bàn thờ, chưa một lần nắm tay bà ngoại đòi hái quít, hái cam ở sau vườn. Tôi thích nhất đoạn thơ nầy:
                 Bát canh chua còng chan cơm gạo cũ
                 Nêm nước mắm đồng cũng đủ thơm ngon
                Tuy không ngọt bằng thịt thà phố chợ
                Cũng đượm tình quê, mắt ngoại dịu hiền.
Anh Phan Văn Lá hiện nay là nhà thơ Hồ Trường, Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Hàm Luông.

Phan Văn Lá

Mùa gặt xong ruộng quê khô gốc rạ
Nhớ quắt quay bóng ngoại đã xa lìa
Trong hương gió con nghe tình ân nghĩa
Vọng về đây khi nhớ bát canh xưa.


Hồi đó làng quê mình nghèo quá
Không ngựa xe, không phố thị, chợ phiên
Sang tháng ba ruộng đồng khô gốc rạ
Bữa ăn quê thường kham khổ qua ngày.

Ngoại vo quần băng mình trên ruộng rẫy
Soi đất khô lặng lẽ bắt còng con
Trong nắng lửa mồ hôi ròng tuôn chảy
Nếp da nhăn từng tuổi đã héo mòn.

Con theo ngoại cầm giỏ tre rảo bước
Lòng reo vui khi ngoại được còng to
Quên sao được lời dặn dò thuở trước
Đừng thọt tay vào còng kẹp nghe con!

Khi chiều quê hương nắng xa tầm mắt
Con, ngoại về với mớ còng tươi
Cùng đọt me xanh ngoại hái bên vườn
Cho vừa trọn nồi canh còng chiều lại.

Khói xanh dâng mái tranh chiều quê ngoại
Cay mắt nhoà nhưng không cay nghĩa quê hương
Lửa bếp reo niềm vui chao lòng ngoại
Ngập tình thương bao dành dỗ đêm trường.

Nồi canh chín khói bay cao nao nức
Xông ngạt ngào cùng hương gạo Samo
Bên mâm gỗ chiếc đèn chai lửa nhỏ
Bóng ngoại hắt hiu in tần tảo một đời.

Bát canh chua còng chan cơm gạo cũ
Nêm nước mắm đồng cũng đủ thơm ngon
Tuy không ngọt bằng thịt thà phố chợ
Cũng đượm tình quê, mắt ngoại dịu hiền.

Thời gian đẩy đưa gió đồng qua cỏ
Con bỏ làng xưa quen ánh sáng thành đô
Nơi phố lạ không phai ngày khắc khoải
Nhớ làng xưa, nhớ vị đượm canh quê.

Rồi ngoại mất xa nhạt nhoà sương phủ
Làng thôn xưa chôn bóng cũ nghìn thu
Trong hương gió con nghe tình ân nghĩa
Nghe tóc bay xa mưa rũ mịt mù.

À ơi…
Tháng ba nhớ bát canh còng
Đọt me xanh ngát đem lòng vấn vương
Về ngang làng cũ mù sương
Ngoại xa tăm dạng trăm đường đớn đau!

1974
Minh họa: S. Thống.