20/04/2014

            Thạnh Hải xa mà gần

            Huỳnh Thanh Quang

            40 năm chúng tôi xa mái trường xưa, mang theo kỷ niệm ngọc ngà và trong hành trình mưu sinh dài xa thăm thẳm ấy, những cựu học sinh thế hệ chúng tôi, dù ít nhiều, vẫn luôn để tâm thương yêu các học sinh thế hệ đàn em đang còn nhiều khó khăn tại quê nhà (Bến Tre). Ngày 19/4/2014, chúng tôi đã đến với các em học sinh tại một ngôi trường tiểu học ở tận cùng cù lao Minh: xã Thạnh Hải.

Ngư dân Thạnh Hải


            Trời còn mờ tối, lúc chưa 5 giờ sáng tôi (Huỳnh Thanh Quang), Lưu Huỳnh Thống, Đặng Thị Kim Liêng đã có mặt tại phòng khám răng của anh Lương Văn Tô My(số 3, đường Ký Hòa, Q.5, TP HCM),Trưởng ban Liên lạc cựu giáo viên và học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa để về Bến Tre. Theo hành trình, xe chúng tôi sẽ về đến Hội quán Nhường Trà (phường 8, TP Bến Tre) lúc 7 giờ. Tại đây, chúng tôi xả hơi chốc lát rồi rước thêm anh Cao Thành Văn, chị Võ Thị Ngọc Liễu (cựu học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa niên khóa 1966 -1973)-người đem tặng 1.000 quyển tập cho các em học sinh tại Thạnh Hải.
            Lúc gần 10 giờ, xe chúng tôi vượt qua cầu Ván mới xây dựng khang trang (xã Giao Thạnh, huyện Thạnh Phú), hiện ra là một không gian với những nổng cát cao, những vạt rừng ngập mặn, nắng đỏ chói chang và nhuốm mùi biển cả rộng xa ngút tầm mắt. Xe chúng tôi rẽ vào Hồ Cỏ, đến ngôi trường tiểu học xã Thạnh Hải nằm cạnh đó. Từ đây nhìn lại con đường đã đi, chỉ trong 5 tiếng đồng hồ, chúng tôi đã vượt quãng đường xa khoảng 160 km.
            10 giờ 30, các em học sinh nhận học bổng và học phẩm đã tề tựu đông đủ tại ngôi trường đầy nắng gió này. Ngoài 1.000 quyển tập cho các em, Ban Liên lạc trao 20 suất học bổng, mỗi suất 300.000 đồng cho các học sinh Trường Tiểu học và Trường Phổ thông cơ sở xã Thạnh Hải.
            Anh Lương Văn Tô My nói với các học sinh:”Đây là món quà nho nhỏ do các anh chị cựu học sinh Trường Trung học công lập đóng góp gởi cho các em. Ban Liên lạc đã chọn những điểm trường xa xôi nhất, còn nhiều khó khăn trên địa bàn tỉnh nhà để lần lượt gởi đến các em chút tình…”.

            Trước phút chia tay, thầy Nguyễn Phú Khánh, Hiệu trưởng Trường Tiểu học xã Thạnh Hải cho biết hiện giáo viên toàn xã là 46 người, hơn 50% là giáo viên từ những địa phương khác đến dạy, dạy một thời gian rồi xin đi. Hiện tại, sinh hoạt về tinh thần của thầy cô còn nhiều mặt hạn chế so với những nơi khác trong tỉnh. Chiều, tối ở đây quạnh quẽ, buồn lắm… Anh Lương Văn Tô My, chị Đặng Thị Kim Liêng, chị Võ Thị Ngọc Liễu liền quyết định là mua tặng cho trường cái Ti Vi màu đời mới. Mỗi người xuất ra 2 triệu đồng từ tiền túi của mình, tổng cộng 6 triệu đồng và giao cho anh Cao Thành Văn mua, chuyển giúp đến Trường Tiểu học xã Thạnh Hải càng sớm càng tốt. Ngay buổi chiều 19/4, anh Cao Thành Văn đã mua xong một Ti Vi hiệu Sony Led 32 inchs,  theo đó cửa hàng sẽ chuyển giao đến tận nơi vào ngày đầu tuần với tổng cộng 5,95 triệu đồng…
                                                          
Anh Lương Văn Tô My vượt đường xa đến với Thạnh Hải


Chị Đặng Thị Kim Liêng, Ủy viên Tài chánh, BLL cựu GV&HS Trường Trung học công lập Kiến Hòa phát học bổng cho các em
                       
Các em học sinh nhận học bổng

BLL chụp hình lưu niệm với các thầy cô Trường Tiểu học Thạnh Hải.


 


08/04/2014

Kỳ thi Olympic năm 2014: Trường THPT Chuyên Bến Tre đạt 9 huy chương vàng


           

            Kỳ thi Olympic 30-4 lần thứ 20 năm 2014 do Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong (TP HCM) tổ chức diễn ra tại TP Hồ Chí Minh ngày 6/4. Các thí  sinh là số học sinh THPT được tuyển từ 118 trường THPT Chuyên, THPT từ tỉnh Quảng Trị trở vào đến Cà Mau. Kết quả: Trường THPT Chuyên Bến Tre đạt 9 huy chương vàng: môn Toán, Nguyễn Duy Linh (lớp 11 Toán), môn Vật Lý, Huỳnh Vĩnh Lộc (lớp 11 Lý) và Hồ Quang Huy (lớp 11 Lý), môn Hóa, Trần Thủy Cát (lớp 11 Hóa), môn Sinh, Phạm Thị Mai Trúc (lớp 11 Sinh), Hồ Văn Nhật Trường (lớp 11 Sinh) và Nguyễn Thanh Tuấn (lớp 11 Sinh), môn Sử, Phạm Minh Châu (lớp 11 Sử) và Nguyễn Châu Pha (lớp 11 Sử) và 15 huy chương bạc, 18 huy chương đồng. Trong nhiều năm qua, Trường THPT Chuyên Bến Tre luôn đạt thành tích tốt tại các kỳ thi khu vực, toàn quốc.


                                                                                                                                   Lê Thị Thặng

07/04/2014

            Đến với trang trại Anh Mỹ

            Huỳnh Thanh Quang

            Hàng năm, anh Trần Minh Mẫn lại rủ các cựu học sinh, giáo viên Trường THPT huyện Mỏ Cày (Bến Tre) lên trang trại của anh ăn trái cây chơi. Mỗi lần đến đây, tôi thấy diện tích trang trại của anh càng nở rộng với cây trái sum suê và tôi không khỏi giựt mình khi biết được mức thu nhập của trang trại này.



            Đem chuông đánh ở xứ người
            Anh Trần Minh Mẫn quê gốc huyện Mỏ Cày. Trang trại của anh có tên Anh Mỹ, rộng 62 hecta, nằm sát sông Bé thuộc xã Hiếu Liêm, huyện Tân Uyên, Bình Dương. Đặc biệt là 62 hecta này là đất liền canh, cứ hết khu trồng quýt thì tới khu trồng cam, trồng bưởi da xanh, mỗi khu rộng khoảng 20 hecta. Và đặc biệt hơn nữa là tất cả cây giống cam, quýt, bưởi da xanh anh đều đem từ Bến Tre lên đây trồng.
Chúng tôi luồn sâu vào vườn cam sành trang trại Anh Mỹ. Anh Thạch Hải, quê huyện Cầu Ngang (Trà Vinh), một nhân công chăm sóc vườn cây có múi tại đây, cứ lựng khựng rồi nói:” Có mấy anh đến tham quan vườn cam, kêu tôi hái trái, tôi mới dám hái…”. Tôi hỏi: “Vì sao? Chỉ xin vài trái, cầm tay chơi cho vui vậy mà. Ở đây, trái cây phải tính đến con số tấn, tấn”. Anh Thạch Hải là người gốc Khơ me nên nói giọng cứng cứng: “Làm công việc như tụi tôi mà tự hái một trái, bị phát hiện, sẽ bị phạt 50.000 đồng. Kỷ luật ở đây nghiêm lắm – anh tiếp lời – hầu hết nhân công chăm sóc vườn trái cây tại đây đều ở dưới miền Tây (Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng…) lên làm, riêng “hệ” này có khoảng 70 nhân công, tháng chủ trả cho 3,5 triệu đồng, công việc làm liên tù tì, suốt năm. Về ăn, ngủ: trong trang trại có hai dãy nhà rộng dành riêng cho nhân công”. Lại hỏi: “Sáng nay mấy anh, mấy chị đang làm gì trong vườn cam này?” Đáp:” Làm giàn đỡ để giúp trái cam không hoằng xuống. Còn tầng trên ngọn, cũng làm giàn phủ để phủ lên tấm che chống nắng – lượm lên một trái cam vừa rụng, nám vàng một bên, anh giải thích – Như trái cam này đây, bị nắng…táp rồi đó”.
            Anh Mẫn tâm sự: “ Thật ra, tôi là một dược sĩ. Năm 1999, tôi và anh Lương Văn Ấu, cử nhân kinh tế, hợp tác đầu tư xây dựng trang trại này. Anh Ấu là người rất nhiệt tình, giỏi giang và tâm huyết với trang trại. Đến năm 2012, trang trại chúng tôi gồm 50 hecta nhưng vào năm 2013 đã mở rộng thêm 12 hecta – anh Mẫn từ tốn – Sự thành công của hôm nay là nhờ các anh em hỗ trợ, nhất là người quản lý điều hành là anh Trân Văn Thuận nắm rất vững về kỹ thuật trồng cây có múi”. Tại khu trồng bưởi da xanh, anh Mẫn dẫn tôi đi xem những cây bưởi thuộc hạng “lão làng”, trong đó có những cây đã 15 tuổi. Tôi lấy gang tay đo thử gốc bưởi này, úi trời, bề hoành của gốc bưởi hơn 6 gang tay. Anh Mẫn cho biết chỉ riêng cây bưởi này trang trại thu hoạch trên 20 triệu đồng/năm. Tôi hỏi anh Mẫn tổng sản lượng trái hàng năm của trang trại, anh nói cam (cam sành, cam xoàn), quýt (quýt đường, quýt Tiều), bưởi da xanh, mỗi thứ thu hoạch từ 50 -70 tấn/ha/năm, trong khi đó tại ĐBSCL chừng 20 -25 tấn/ha/năm là quát tầm. Cam, quýt giá thấp hơn bưởi da xanh nhưng thu hoạch hai loại này cộng lại, sản lượng khá hơn, khỏe hơn nhiều so với bưởi (bưởi khi ra bông đến kết trái phải qua nhiều công đoạn kỹ thuật chi li). Anh Mẫn nở nụ cười:” Cam, quýt năm 2014 có giá hơn 2013, hiện nay, bán tại đây đã 30.000 - 32.000 đồng/kg…” Tôi làm bài toán và nghĩ thầm: “Vậy là tiếng chuông của trang trại Anh Mỹ đã ngân vang trên đất miền Đông…”.

Bưởi da xanh tại trang trại Anh Mỹ

            Lợi thế miền Đông
            Đất đai phì nhiêu, mầu mỡ, có thể mở rộng diện tích liền canh chừng vài chục hecta để có sản lượng lớn, sản phẩm đồng đều là điều có thể thực hiện được tại miền Đông. Còn tại ĐBSCL, hộ chỉ vài hecta (những người có nhiều đất ) nên việc canh tác, sản xuất tại đây vẫn trên nền nhỏ lẻ, manh mún, khó chủ động nhất là về mặt sức cung.
            Để phát huy lợi thế của miền Đông, anh Trần Văn Thuận cho biết về sức đầu tư của trang trại: Về phân bón, cứ khoảng 2 tháng chi 1 tỷ đồng, gồm 600 triệu đồng phân vô cơ, 400 triệu đồng phân hữu cơ. Riêng về hệ thống tưới cây, hệ thống tưới này được đặt âm dưới lòng đất, béc phun tưới nước tự động, đầu tư tính ra khoảng 60 triệu đồng/hecta. Trang trại sử dụng điện 3 pha trên sông Bé, vào mùa khô, cứ hai, ba ngày, các cây nước sẽ xoay vòng tưới đều các gốc cây ăn trái. Toàn bộ lưới điện 3 pha do chính quyền Bình Dương tài trợ, chi phí gần 1 tỷ đồng cách đây 7 năm. Tôi hỏi anh Năm Hiền (quê xã Bình Khánh Đông, Mỏ Cày Nam, Bến Tre), người quản gia của trang trại: “Khi thu hoạch, trái cây của trang trại chở đến các vựa?” Anh Năm cười hiền: “Các mối đến trang trại, thu mua và đóng gói tại đây. Dịp gần tết…sung lắm vì lúc này là thời điểm thu hoạch bưởi da xanh”.
            Rảo khắp khu trồng bưởi da xanh bên bờ sông Bé của trang trại, tôi không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy nơi đây bưởi không “ngủ mùng” (bao trái), tôi hỏi gặng anh Mẫn: “Ba, bốn năm qua, sâu hồng tấn công dữ dội vào các vườn bưởi tại Bến Tre, ĐBSCL. Để bảo dưỡng trái bưởi không bị xì mủ do sâu hồng đục, các chủ nhà vườn tại đây phải may bao bằng vải mùng và cho bưởi “ngủ mùng” khi trái mới bằng ngón chân cái. Vào một vườn bưởi da xanh, thấy màu trắng, đỏ của bao vải mùng bịt trái nhiều hơn màu xanh của cây trái!?” Anh Mẫn cho rằng sở dĩ nơi đây không có sâu hồng vì đất rộng, liền canh, mọi biện pháp về trừ sâu được khoanh vùng, xử lý kỹ thuật triệt để. Còn tại dưới quê nhà (Bến Tre – ĐBSCL), người ta chỉ canh tác trên diện tích 5-7 công đất hoặc một vài hecta, đất lại san sát nhau, xịt thuốc bên này, sâu bay sang bên kia rồi đáo lại tiếp tục phá hại cây trái.
            PGS- TS Nguyễn Minh Châu, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã một lần đến trang trại Anh Mỹ. Ông đánh giá rất cao trang trại này vì thu nhập tại đây rất cao, ông nói: “Ở miền Đông mà làm được trái vụ trên cam quýt thì tay nghề phải rất cao, người trồng vừa nắm được kỹ thuật vừa nắm được thị trường lúc nào cần”.

Tôi đã nhiều lần ăn cam, quýt, bưởi da xanh của trang trại Anh Mỹ. Chất lượng múi ngon ngọt, thanh khiết và khi ăn tôi không có cảm giác lo lo như phải mua các loại trái cây có hình thức sặc sỡ, tươi chong đang tràn ngập ngoài các chợ.

Anh Trần Minh Mẫn.

31/03/2014

Một người lặng lẽ ngồi giữ rừng bên bờ biển Đông: “Robinson” cồn Lợi
          Phan Lữ Hoàng Hà

            Công việc giữ rừng nặng nhọc không phải là mối bận tâm của chàng “Robinson” này. Vấn đề là làm thế nào tồn tại trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, sống chỉ một mình và khó liên lạc được đất liền…

            “Nhất kiếm trấn ải”
            Giám đốc Lâm ngư trường Bến Tre Võ Văn Ngàn (quen gọi là anh Ba Ngàn) cho xuồng máy đưa tôi ra cái chòi nhỏ nằm cheo leo ngoài bờ biển Đông, để một lần diện kiến anh chàng “Robinson” này. Hơn 17 năm qua, anh đã tình nguyện đến đó để canh giữ khu rừng chết chạy dài từ cồn Lợi đến cồn Bững thuộc xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, Bến Tre. Đường từ “đại bản doanh” của lâm ngư trường (gần trung tâm xã Thạnh Hải) phải mất hơn một tiếng đồng hồ chạy xuồng máy. Xuồng cứ đâm dọc dâm ngang, uốn éo qua những vạt rừng phòng hộ như đước, bần, mắm, phi lao…đã cao khỏi đầu người, xanh um, bạt ngàn, mát rượi. Đến gần bờ biển, sóng làm chiếc xuồng nhỏ tròng trành chao đảo, bọc nước tung lên trắng xóa. Dưới cái nắng gay gắt của vùng biển, lớp da trên hai tay tôi như áo một lớp muối mỏng. Anh Ba Ngàn giới thiệu trước lai lịch của chàng “Robinson”:
            - Đó là một thanh niên khá vạm vỡ, hiền từ, tên là Nguyễn Văn Huỳnh, sinh năm 1960, quê xã Bình Khánh, huyện Mỏ Cày (Bến Tre). Trước năm 1992 anh lái ghe cho lâm ngư trường, sau khi lâm ngư trường giao khoán rừng, Huỳnh xung phong ra đây giữ 118 hecta rừng đước, mắm, phi lao. Trong nội dung khoán, mỗi tháng anh được lãnh 331.000 đồng, nhưng mất một cây đước anh phải bồi thường 15.000 đồng và nếu như làm tốt anh được hưởng thêm 150.000 đồng/tháng.
            - Nghe nói chàng “Robinson” cũng có một mái ấm xinh xinh ở quê hương vườn dừa Bình Khánh – tôi hỏi:
            - Đúng. Song ngày ấy Huỳnh đã gật đầu “vác kiếm thân chinh đi trấn ải”. Huỳnh là người rất mạnh…bóng vía. Một mình với đêm ngày giữa biển rừng không một bóng người mà…
            Hoàng hôn đang ngả dần trên biển, nơi những vạt rừng, cồn bãi nằm e ấp bên cồn Lợi. Tôi đứng lên phóng xa tầm mắt. Ngoài kia, mặt nước biển đang giựt xuống làm lộ rõ những bãi bồi nằm gối bên nhau và trải dài xa tít tắp. Ở đó, những người dân đang đi mông, chòi mông (phương tiện tự tạo để lướt trên mặt bùn), đi cà kheo để bắt thủy sản – một công việc mưu sinh thường nhật của dân nghèo tại địa phương…Chỉ tay về hướng đó, Ba Ngàn hồi tưởng:
         - Hồi còn chiến tranh, tại đây có cả địa danh Bến Mông. Hàng trăm chiếc mông sẽ tựu lại khi có yêu cầu chuyển vũ khí từ tàu và giấu trong rừng. Năm xưa nơi đây là đầu cầu tiếp nhận vũ khí Bắc – Nam…
         - Cảnh kiếm sống kia đến bao giờ mới chấm dứt?
           - Khi nắng không còn…
Tôi ngầm hiểu lúc đó nơi đây sẽ còn duy nhất mỗi một “Robinson”, anh chàng “nặng bóng vía” của tôi đây!
Chiếc xuồng máy đã tấp vào căn chòi lá nằm ngẩng mặt ra hướng biển Đông, phía sau là một khu rừng chết.
Tôi và anh Ba Ngàn khom người chui vào căn chòi nhỏ. Huỳnh im lặng, lù lù hiện ra như…một bóng ma. Chàng vui mừng chào “thủ trưởng” và người khách lạ, nhưng lúng túng không biết mời khách ngồi xuống đâu, uống gì. Thấy trong chòi có nhiều chai nhựa, đủ thứ nhãn hiệu Tây – Tàu, tôi không khỏi ngạc nhiên:
         - Ở nơi xa đất liền như thế này, anh mua những chai lọ đó ở đâu mà mua chi nhiều vậy?
Anh cười:
         - Những chiếc tàu qua lại ngoài khơi ném xuống biển mùa gió chướng sóng đẩy trôi giạt vào bờ…
Mọi vật dụng hằng ngày của anh cũng từ biển: đôi dép anh đang mang, chiếc ấm nấu nước, dụng cụ để thức ăn, cao su để anh nhóm lửa nấu cơm…Tất cả đều do nhặt từ ngoài bờ biển trong những chuyến đi tuần tra bảo vệ rừng. Hàng ngày Huỳnh phải lội rừng trên 10 km đi kiểm tra. Hóa ra anh còn là người làm sạch môi trường biển ở một nơi đìu hiu hút gió…
Tôi bước ra ngoài căn chòi quan sát. Một chậu cà tây đang cho trái trên lớp cát. Một bụi rau quế xanh tốt từ lớp phân cá, còng ủ mục do anh chăm bón. Những dây mồng tơi xanh rờn bò lên mái chòi. Còn có cả hai chú chó mực lưỡi có đốm đen. Đây là loại chó ta mà người ta cho là rắn cắn không chết. Và ngộ thay, chúng không bao giờ ngủ trong chòi…
Anh Ba Ngàn ra theo nói:
- Cơn bão Linda (số 5 năm 1997) cơn bão thế kỷ, đã không khuất phục được con người này. Sau bão Huỳnh vẫn tiếp tục ở lại. Công việc nặng nhọc không phải là mối bận tâm với người giữ rừng. Vấn đề là làm thế nào tồn tại trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, sống chỉ có một mình và khó liên lạc được với đất liền. Bởi vậy nước ngọt, rau xanh vẫn là điều mà những người giữ rừng phải chắt chiu, toan tính, nhất là trong những tháng mùa nắng.
Còn trong suy nghĩ của tôi: Có phải từ ý thức bảo vệ sự sống đã thúc đẩy chàng “Robinson” làm nên điều kỳ diệu mà những người giữ rừng trước đó không thể làm được?
Đêm. Tiếng gió rú từng chập. Ngoài khơi xa tiếng sóng bổ gành rền dưới lòng đất, tiếng gió biển rít vi vút qua những hàng đước chết đứng trơ trụi trên nền cát. Tôi hỏi anh Ba Ngàn:
           - Nhưng giữ rừng mà tại sao lại giữ…khu rừng chết?
           - Từ nhiều năm qua bỗng tại đây xuất hiện chuyện cát lấn, cát tràn. Hàng năm, từ cồn Lợi đến cây Bàng (cồn Bững) dài trên 10 km, gió biển đưa cát lấn thêm vào bờ từ 10 – 15 mét. Cát lấn tràn đến đâu thì rừng đước lùi dần đến đó. Cho nên để bảo vệ và cứu lấy rừng phòng hộ bên trong đang rất tươi tốt, những cây đước chết khô kia vẫn phải để nguyên đó, không cho bất cứ ai đốn mất vì đây là màn chắn cuối cùng. Vả lại, khu vực này rất phức tạp gọi là: “Khu Sài Gòn mới”.
            - “Sài Gòn mới”?
            - Dân đây quen gọi vậy. Vào mùa nam lặng gió, hàng trăm con người từ các vùng lân cận tìm đến đây để bắt nghêu, sò và tất nhiên chặt cây rừng.
            Trước năm 1990, rừng phòng hộ ven biển Thạnh Phú bị tàn phá gần như khánh kiệt. Người ta phá rừng để làm vuông nuôi tôm và để sống. Để cứu lấy rừng, Lâm ngư trường Bến Tre ra đời từ đó. Với trên 60 người (không kể số hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng), lâm ngư trường vừa nuôi tôm trên tổng diện tích 971 hecta rừng ngập mặn vừa trồng rừng, từng bước lâm ngư trường đã đứng vững và phát triển trên địa bàn dài hơn 20 km thuộc vùng đất cuối cù lao Minh.
            Vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú (gồm 8.825 hecta tại xã An Điền, Thạnh Phong và Thạnh Hải), đồng thời Nhà nước đã có dự án trồng 5 triệu hecta rừng. Trên những thảm rừng mới mà “Robinson” Nguyễn Văn Huỳnh cùng tập thể các anh lính giữ rừng của Lâm ngư trường Bến Tre đã tạo dựng được, nay mai lâm ngư trường sẽ bắt tay vào thực hiện hai dự án quan trọng trên. Đó cũng là niềm an ủi lớn lao đối với một người lặng lẽ ngồi giữ rừng bên bờ biển Đông.

Khu rừng chết.


                                                            (Báo Tuổi trẻ Chủ Nhật năm 1998,
                                                             Giải C báo chí toàn quốc Hội nhà báo

                                                                    Việt Nam năm 1999).

29/03/2014

Những giọt máu, những nụ hoa cho đời

      
            Phan Lữ Hoàng Hà

            Một sáng ra Tòa soạn báo Đồng Khởi, chị Mai Hoa, trưởng phòng công tác bạn đọc của báo, trao tôi phong thư, tôi vội mở ra xem. Ra đó là một bức thư của bạn đọc tên Đoàn Văn Minh, ngụ ở ấp Thạnh Đông, xã Hương Mỹ, Mỏ Cày. Trong thư, anh Đoàn Văn Minh viết:
            “…Vào một đêm, trong tình trạng nguy kịch, cô em vợ của tôi (tên: Cù Thị Mãnh, ngụ ấp Vĩnh, xã Đại Điền) đã được trạm xá Tân Phong chuyển đi cấp cứu sản ở bệnh viện Mỏ Cày lúc 5 giờ 30 sáng. Lúc đó huyết áp của cô đã kẹp (5/3), và sau khi hội chẩn, bác sĩ khoa sản Lê Phi Long cho biết là nơi bào thai của cô em vợ tôi đã phải “nhau tiền đạo trung tâm, cài răng lược” thế nên phải mổ khẩn cấp. Mà mổ thì phải cần tiếp máu. Máu đâu? Một đứa con của cô Mãnh sẵn sàng nhưng ngặt nỗi không đúng nhóm máu, ở bệnh viện cũng lại chưa có ngân hàng máu. Và thế là bác sĩ Lê Phi Long – người trong chốc lát nữa đây sẽ trực tiếp phẫu thuật cho cô Mãnh – quyết định tự hiến máu của mình. Cùng với một đơn vị máu của bác sĩ Lê Phi Long, cộng với truyền dịch, tình trạng nguy kịch ở cô Mãnh từ từ đã được cải thiện, ca phẫu thuật để cứu mẹ lẫn đứa con được tiến hành và kết thúc tốt đẹp. Mười ngày sau đó, cô em vợ tôi xuất viện với cháu nhỏ đã biết đưa mắt nhìn bầu trời. Cả hai mẹ con đều khỏe mạnh trong xúc động của mọi người…
            Song nếu bác sĩ ấy lặng đi, không cho máu, thì sẽ ra sao?
            Nay tôi viết thư này gởi đến quí báo để nói lên tấm lòng cao cả của một bác sĩ đang công tác tại một huyện mà người ta quen gọi là: “Cái nôi quê hương Đồng Khởi”.
                                                                                    Ký tên (Đoàn Văn Minh).
            Đọc những dòng tường thuật trên, thú thật, lòng tôi không khỏi xúc động và trân trọng đối với một “lương y như từ mẫu”. Song, sự việc không rõ thực hư ra sao, thế là tôi quyết định đến ấp Vĩnh (xã Đại Điền).
            Hướng dẫn tôi đến thăm mẹ con chị Cù Thị Mãnh là anh Lượm – Trưởng công an xã Đại Điền. Đường đến nhà chị Mãnh khá xa, lại phải bước đi rất chật vật trên những đoạn đường nổi sình cháo, song trong lòng vẫn thấy có điều gì đó bồn chồn và cũng chính từ niềm vui, sự cảm phục đó đã thôi thúc tôi tìm đến một nơi xa xôi và quá ư hẻo lánh như ấp Vĩnh của xã Đại Điền. Trời vẫn mưa không ngớt…
            Tôi vào nhà chị Mãnh, lúc chị đang ru cháu ngủ (đứa bé được sinh ra trong ca mổ thập tử nhất sinh). Chị Mãnh xúc động mạnh, bồng cháu lên nói:”Ơn đối với bác sĩ Phi Long, với tập thể y, bác sĩ bệnh viện Mỏ Cày, biết bao giờ…em mới trả hết. Anh Đoàn Văn Minh – người anh rể của em – có đến đền ơn bác sĩ Phi Long 2 triệu đồng gọi là “tiền máu”. Song, bác sĩ Phi Long nhất quyết không nhận. Với anh Minh, tánh tình anh ấy rất sòng phẳng, ai giúp mình, thì mình phải “trả ơn” lại như vậy, lòng anh ấy mới yên ổn…”. Rồi chị Mãnh bế cháu nhỏ đến sát tôi, cho tôi xem. Cháu ngáp thật dễ thương, chị Mãnh nói tiếp: “Đến nay, cháu được 1 tháng 16 ngày…”. Không khỏi băn khoăn (dù chuyện đã qua hết rồi), tôi hỏi chị Mãnh: “Trước đó, chị có đi…siêu âm?”. “Có. Nhưng bác sĩ ở phòng siêu âm không nói là em có nhau tiền đạo. Ấy mới chết! Thế là khi thai của em 9 tháng nó phải bể ra và ra huyết dữ dội. Các y, bác sĩ sản khoa ở trạm y tế xã Tân Phong đành bó tay!”.
            Ngược lớp bụi đỏ bốc cao mù trời trên đường 888, tôi đến bệnh viện Mỏ Cày và tìm gặp bác sĩ Lê Phi Long. Được biết, đêm đó bác sĩ Long đã đứng mổ liên tiếp cả thảy 7 ca và với chị Mãnh là ca thứ 8, và ca ấy đã kéo dài luôn tới sáng. Một y sĩ (xin yêu cầu không nêu tên) ở bệnh viện Mỏ Cày nói với tôi: “Đâu chỉ riêng trường hợp của chị Cù Thị Mãnh, mà nhiều trường hợp khác nữa, bác sĩ Phi Long sẵn sàng cho máu mình, cứu người”
            Tốt nghiệp Trường Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 1989 và từ đó bác sĩ về công tác tại bệnh viện Mỏ Cày. Hiện bác sĩ là Trưởng khoa ngoại và khối ngoại sản của bệnh viện huyện. Ngoài ra còn là bí thư chi bộ 1, chi ủy viên Đảng ủy y tế Trung tâm Y tế huyện Mỏ Cày. Còn về sự tận tụy và lòng cao cả của một thầy thuốc đối với bệnh nhân – như bác sĩ Lê Phi Long – tôi đã nghe rất nhiều người dân ở thị trấn Mỏ Cày nói đến với lòng trân trọng. Những giọt máu ấy, chính là những nụ hoa cho đời…

                                                                                             (Giải C báo chí toàn quốc

                                                                                               Hội nhà báo Việt Nam năm 1997).

Bác sĩ Lê Phi Long.

24/03/2014

Ra mắt Ban liên lạc cựu học sinh Trường THPT Mỏ Cày

            

Các cựu học sinh và giáo viên Trường THPT Mỏ Cày và các cựu học sinh Trường THCL Kiến Hòa

Ban liên lạc cựu học sinh Trường THPT Mỏ Cày

Cựu giáo viên Trường THPT Mỏ Cày và anh Trần Minh Mẫn.

            Ngày 23/3, trang trại Anh Mỹ (rộng 62 hecta, nằm bên bờ sông Bé thuộc xã Hiếu Liêm, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), đón hơn 40 cựu học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa, Trung học phổ thông huyện Mỏ Cày ( Bến Tre) và các cựu giáo viên Trường THPT Mỏ Cày đến họp mặt. Sau khi tham quan vườn trái cây của trang trại Anh Mỹ do anh Trần Minh Mẫn là chủ trang trại, các cựu học sinh và cựu giáo viên bước vào nghi thức ra mắt Ban liên lạc cựu học sinh Trường THPT Mỏ Cày. Anh Trần Minh Mẫn, thành viên của Ban liên lạc, đại diện Ban liên lạc, nói lên những suy nghĩ và tình cảm để kết chặt tình thân ái của thầy – trò dưới mái Trường THPT Mỏ Cày năm xưa, theo đó các cựu học sinh, qua Ban liên lạc, sẽ thường xuyên tổ chức thăm viếng nhau, động viên, hỗ trợ nhau trong cuộc sống. Ban liên lạc gồm 9 thành viên, anh Lê Quang Triệu làm trưởng ban.

                                                                                                                                   Thanh Quang

17/03/2014

Tiếp sức các em đến trường

Bà Võ Thị Hảo và em Nguyễn Thị Hồng Gấm, lớp 10 Trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật Bến Tre nhận học bổng

            Ngày 16/3, Hội Nạn nhân chất độc da cam/đioxin Bến Tre (Hội) phát học bổng cho các học sinh tại Bến Tre do Hội Les Amis du Vietnam (Bạn của Việt Nam tại Pháp) và bà Võ Thị Hảo – Việt kiều tại Canada tài trợ chính. Bà Lê Thị Thanh Vân, Chủ tịch Hội, ông Nguyễn Văn Huấn, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Bến Tre,…đến dự.
Đợt phát học bổng đầu năm 2014 này gồm 116 suất, tổng cộng 94,5 triệu đồng trong đó có 13 suất của Hội Les Amis du Vietnam, mỗi suất 2,5 triệu đồng. Đối tượng nhận học bổng là các học sinh nạn nhân chất độc da cam, khuyết tật, mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn vượt khó trong học tập đạt học lực giỏi, khá.
Quỹ học bổng của Hội hoạt động liên tục từ năm 2006 đến nay, hàng năm phát cho 400-500 học sinh, sinh viên Bến Tre trong diện trên với tổng cộng gần 4 tỷ đồng. Nhận học bổng từ Hội có trên 70 sinh viên đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học, có việc làm ổn định; em Huỳnh Vĩnh Lộc học lớp 11 Lý, Trường THPT Chuyên Bến Tre đạt huy chương vàng Olympic 30-4 môn Vật Lý năm 2013, hạng nhất giải toán toàn quốc trên máy tính cầm tay năm 2014 và giải khuyến khích học sinh giỏi cấp quốc gia môn Vật Lý năm 2014.
Dịp này, UBND tỉnh Bến Tre đã tặng bằng khen cho bà Võ Thị Hảo với thành tích có nhiều đóng góp cho Quỹ Vì người nghèo Bến Tre.

Trao bằng khen của UBND tỉnh Bến Tre cho bà Võ Thị Hảo.



                                                                                                                                    Lê Thị Thặng