23/11/2013

 Ngụ ngôn một mẫu vườn Dừa
   Trúc Thông
     
Là tân cổ tích Nhường Trà
Để dành tặng bạn như là ngụ ngôn...

·      

Tôi hiểu chuyện ngụ ngôn là những khuyến nghị của các bậc hiền triết, cao minh, mượn ngôn lời của một loài, một vật nào đó để răn dạy con người những bài học kinh nghiệm để đời, để mà khôn lớn, để học và hành… Nhưng với tôi là lớp hậu sinh, hay nghe những chuyện ngụ ngôn giữa đời thường… Có khi, nó diễn ra quanh tôi, trong chốn làm, trước ngỏ nhà, hay như hôm nay, là tại mẫu vườn dừa, bên dòng sông quê mà tôi mới tậu được đây…

Trưa nay nắng gắt, ngồi dưới gốc dừa xiêm hóng gió bờ sông và hứng chịu mùi bùn sình hôi hám... Tôi suy đi nghĩ lại nên cải biến thế nào với mẫu vườn dừa, lẫn mớ cây ăn trái èo uột, vây quanh ngôi nhà chữ đinh cổ xưa, thọ qua bao đời ông, cha và con... Bây giờ, mái ngói đã cong quằn, tường vôi loang lỗ, nền nhà sụp lún rong rêu, tuy đồ dùng gia bảo trong nhà vẫn còn nguyên, dù có tỳ vết tích chiến tranh… Một làn gió sông nổi lên, lay động bóng tàu dừa chờn vờn trên mặt cát cỏ úa vàng như gạ gẫm tôi: “Thì cứ làm như thầy thuốc trước một con bệnh vậy, phải truy chứng, định căn, rồi ra toa bốc thuốc trị liệu thôi mà!”... Tôi gật gù, sắp xếp lại trật tự suy nghĩ... và để thử lắng nghe xem lòng sông và bóng dừa có còn ngụ ngôn nào nữa không...



Tôi bức xúc, nhăn nhó nhìn dòng sông chảy lững lờ qua mặt tiền nhà, đậm mùi bùn, lẫn mùi nước thải, rác rưỡi... Hôm đến xem mua mẫu vườn dừa này, chính mùi hôi hám đó khiến tôi ngao ngán, muốn bỏ về… Nhưng vì cám cảnh ngặt nghèo, cần bán gấp của gia chủ, và thực lòng tôi cũng rất muốn tậu một cơ ngơi để nghỉ hưu nhàn nơi cố hương, nên cuối cùng quyết định đặt cọc, sau khi đã thỏa thuận mọi đàng... Khi đôi bên ký tên vào tờ hợp đồng mua bán, tôi nghe như có tiếng tàu lá dừa và cây lá trong vườn khua động xào xạc, theo làn gió sông thổi vào nồng nặc mùi là mùi... Tôi thì nửa hài lòng, nửa băn khoăn; còn gia chủ, nguyên là người Thầy khả kính, từng dạy tôi môn Sử Địa, hồi thời Trung học đệ nhứt cấp... cũng không giấu được nỗi ngậm ngùi tiếc nuối...

Thật ra, hoàn cảnh bán gấp cơ ngơi thừa tự bao đời nay của Thầy là vì do neo đơn, vợ mất đã hơn 3 năm nay... Đứa con gái duy nhất đi du học từ lâu, lấy được bằng tiến sĩ Thiên văn ở Mỹ và có chồng là người Đan Mạch, cũng là giáo sư Thiên văn nổi tiếng... Hai vợ chồng đã có cháu nội ngoại, khó bề hồi hương hay đưa Thầy sang đoàn tụ ở xứ Bắc Âu lạnh lẽo giá băng... Do đó, Thầy chỉ còn mỗi cách tính là mua một căn hộ ở Phú Mỹ Hưng, dùng phần tiền còn lại gửi tiết kiệm, để làm từ thiện và trang trải cho cảnh sống già neo đơn...

Còn tôi, là nguời khách thứ ba tìm đến mua cơ ngơi này, sau khi hai người trước đến rồi đi không trở lại... Nguời đầu tiên là đồng nghiệp cũ với Thầy, bây giờ là Việt kiều Úc, muốn mua cho đám em cháu nghề nghiệp long bong, nhưng bọn nó lại không ưng... Người thứ hai là một cô bạn học cũ của tôi, ngày xưa rất cởi mở, bây giờ là Việt kiều Canada, lại rất thắt ngặt... Chính cô mách địa chỉ nhà Thầy, với ngụ ý đố tôi mua nổi... Cho nên tâm trạng của tôi khi gọi điện thoại hẹn gặp Thầy, cũng có phần nào e ngại... Nhưng tôi không ngờ được Thầy nồng nhiệt đón tiếp, đầy thiện cảm và nói thẳng: “Tiền bạc với Thầy bây giờ không thành vấn đề, vấn đề là Thầy cần tình người tử tế và tình thầy trò ta thôi!”. Và tôi càng ấn tượng hơn, khi nghe Thầy nói ra điều rất bất ngờ: “Thầy có biết về hoàn cảnh của gia đình con năm ấy... Ít ra là Thầy có dịp tiếp xúc với Ba con một lần ở quán cơm Phiếu mẫu nổi tiếng một thời ở tỉnh mình... Ba con có gửi lời nhờ Thầy quan tâm chuyện học hành của con... Thầy nói thật, sau khi nhận cuộc gọi điện thoại của con hẹn hôm nay đến đây, con có tự giới thiệu tên họ, gia cảnh và nghề nghiệp hiện nay... là Thầy hình dung ngay mọi diễn biến cuộc chuyển nhượng này rồi sẽ êm đẹp mọi bề...”...  

Tôi tự vấn, so với cả đời Thầy sinh trưởng và ngụ cư ở chốn này đã già non thế kỷ, thì sang cảnh đời hưu nhàn của tôi nơi đây rồi cũng qua đi, không khéo lập lại kịch bản cuối đời cũng như Thầy... Thôi thì sá gì những lụy phiền, tức cảnh nhứt thời trước những bề bộn của vùng đất quê nghèo còn đang chuyển mình đổi mới... Vả lại, sau khi ngã ngũ việc mua bán xong xuôi, tôi sẽ gầy dựng thành cơ ngơi tiện nghi hiện đại mấy hồi... Bằng không, thì tôi sẽ liệu bề ứng biến, để không phải “ném tiền qua cửa sổ”...  

Cũng phải thôi, khi kể lể lai lịch thửa vườn nhà cổ xưa này, Thầy Mạc Cảnh Đường, cái tên rất đáng tự hào là nguời cố cựu, vì từ đời họ Mạc ở Đàng Ngoài đi theo dòng người Nam tiến vào khai hoang và lập nghiệp ở đây, thì gia thế của Thầy là một chi hệ hậu duệ… Thầy cũng nhắc rằng gia sản đất đai ngày trước có đến hàng chục mẫu, nhưng qua hàng thế kỷ truyền đời cho con cháu, đến nay còn giữ được ngần này là may phước lắm rồi...

Rồi Thầy Đường tiếp tục kể dông dài như giảng bài rằng... Tất nhiên, theo lập thuyết địa lý thì con sông này phát tích từ thuở “khai thiên lập địa”, nó có trước cả thảy giống loài động thực vật và con nguời sinh sôi nảy nở, rồi sinh tụ quần cư nơi đây... Nhưng trong thực cảnh đương thời, nó chỉ là một nhánh sông con chạy dài từ miệt đất Giồng chia dòng nước ngọt từ vàm sông Cái… Đến thời hoàn tất mở cõi phương Nam, nó đã thành danh là một giang đạo, tấp nập ghe thuyền đổ về buôn bán, từ các vùng cù lao màu mở, trù phú... Nói khác hơn, là nhờ có nó mà dân bản địa và dân thương hồ đã hình thành ven bờ một trung tâm chợ tỉnh nhộn nhịp từ đời thuở đó... Còn bây giờ, con sông này bé nhỏ hơn xưa rất nhiều, do biến đổi địa lý “bên lở bên bồi”, do dòng chảy biến thiên cùng chế độ giang triều, triều cường, và kể cả lý do biến động môi trường, khí hậu, địa hình châu thổ, vân vân... Nhưng mà cái gì thuộc về tạo hóa, tự nhiên thì nó vẫn cứ là tự tồn...

Tôi bèn mạo muội góp lời đồn đoán với Thầy cho vui: “Phải chi hồi đó Vua Gia Long bôn tẩu qua con sông này, ăn trái bần cầm dạ mà khen ngon, và ngự ban tên là trái Thủy Liễu... thì chắc dòng sông này đã có một mỹ danh từ thuở ấy!”... Thầy gật gù: “Phải rồi, cái giai thoại về trái Thủy Liễu đó đố mấy ai biết nó hư hư thiệt thiệt ra sao... Chỉ biết rằng xa xưa ông bà ông vãi Nam bộ hay gọi tên sông rạch chằn chịt theo đặc điểm sinh cảnh như là sông Cạc Bần, rạch Ô Rô, vàm Cóc Kèn, mương máng Mù U, vân vân... Không ai đặt cho nó cái tên lãng mạn như là sông Hương ở Huế, sông Thương ở Bắc bộ vậy!”...

Một chiếc ghe bầu chở khẳm dừa, máy nổ bành bạch chạy qua, đẩy dạt vào bờ những đám lục bình, lẫn cỏ rác linh tinh, kèm mùi bùn rác hôi hám nặc nồng... Tôi khó thở, còn Thầy Đường thì quá quen mùi, vẫn tiếp tục chuyện trò... Thầy nói như để khép lại câu chuyện về cái tên con sông này: “Thật ra, ông bà mình đâu dám lưu tâm chuyện sang định địa danh này nọ, vì vốn là chuyện của vua quan, thậm chí là chuyện cổ tích, mộng mỵ của Thành Hoàng, Thổ Địa mà thôi!”... Nghe lời Thầy, tôi bèn thưa thốt rằng xưa kia, ông bà ta chỉ hay truyền đời cái tên bến bãi cho ghe thuyền ghé lại trước cửa nẻo nhà mình, như ca dao có câu rằng... Bến này là bến ông Cai... Bãi kia là cái bãi của chị Hai Răng Vàng… vân vân… Thầy Đường nhìn tôi ngạc nhiên, cười khoe chiếc răng cửa bịt vàng thiệt còn sót lại: “Con nói đúng phóc! Ông cố nội của Thầy nguyên là Cai Tổng, bến ghe này đúng là Bến ông Cai...” 

Tôi chợt thoát khỏi hồi ức qua câu chuyện với Thầy Đường, nhìn quanh chẳng có ai, mà nghe như có ngôn lời văng vẳng, theo nhịp khua động xào xạc của những tàu lá dừa: “Thủy Liễu giang à?”... Nghe ra như một nửa ngụ ý bài bác, nửa muốn nói... Rằng cái giống bần đó là loài cây thủy sinh, sinh sôi nẩy nở khắp triền sông nước châu thổ Cửu Long giang... Ông Vua đó có ngự ban tên Thủy Liễu giang thì cũng là một dụ ngôn khuất tất cho cái tên sông Bần mà thôi, hay ho gì cho cam!… Một trái dừa con khô cuống, rơi xuống gốc, lăn nhẹ, rồi nằm im lặng trong đám cỏ hôi… Cứ như là nó vừa bị Vua ngự trảm và đặt một dấu chấm than cho suy nghĩ rắc rối của tôi... Tôi nhìn nó, trách móc: “Mày không ưng thì thôi!”…

Nhưng tôi lại nghe văng vẳng có tiếng chim cu đất gáy, lẫn tiếng chim sâu hí hửng trên mấy nang dừa đang nức nở bông!… Tôi bèn thử hỏi lại trái dừa con kia: “Hay là tao gọi là tên sông Dừa vậy?”... Không nghe động tĩnh gì nữa, chắc là nó đồng tình rồi?... Tôi bèn đổi thế ngồi bắt chân chữ ngũ, mách bảo thêm với nó rằng... Nay mai công trình thi công bờ kè chống sạt lở bờ sông sẽ triển khai, mày có biết chăng hay chớ? Làm gì còn nữa cái sinh cảnh bần Thủy Liễu rủ bóng khi nước rong, và phơi cạc lia chia trên bãi bùn khi nước ròng? Mấy gốc dừa nghiêng thân, sà sát mặt sông kia rồi cũng bị đốn sạch... Làm gì còn chỗ cho bọn trẻ chiều chiều tắm sông, leo lên phóng xuống ùm ùm thỏa thích nữa?... Mai này, ai đi qua sông này, vào ban ngày chỉ thấy bờ kè bê tông với hàng chục cây số lan can sắt inox sáng ngời ngời; còn về đêm tất sẽ thấy hàng dãy cột đèn cao áp rủ đám rầy nâu, thiêu thân, thiên địch về chơi thôi... Dừa con ơi, mày đừng có mà lo mà buồn... Số phận mày rồi sẽ có nhiều giải pháp đặt ra...

Chợt tôi nghe vẳng vọng lời tự sự từ quả dừa non, tợ như lời Thầy Đường rằng... Từ thuở hồng hoang, giống dừa chỉ tiến hóa ở miền nhiệt đới ở Bán cầu Bắc và Bán cầu Nam, tương sinh tương khắc cùng loài khỉ và muôn loài khác... Rồi qua diễn biến lịch sử địa lý và theo chu kỳ sinh sản, khi giống dừa khô quá lứa, nó cứ mặc tình rơi rụng, trôi dạt theo chế độ giang triều và thủy triều, và mặc tình sinh sôi nảy nở khắp miền châu thổ, duyên hải và ở tận bờ bến hải đảo xa xôi… Đến thời trung đại, cứ men theo con đường phát kiến địa lý miền biển Đông Ấn, đi qua eo biển Malacca, là đặt chân đến vùng Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo... Kể từ thuở đó, thực dân phương Tây bắt đầu những cuộc hải trình với chiến hạm, để chinh phục thuộc địa, khai thác tài nguyên và hương liệu phong phú của miền nhiệt đới gió mùa… Do vậy, giống dừa bản địa được lên ngôi, là một trong những nguồn nguyên liệu thực vật, với chất nước cốt dừa béo bổ không kém sữa bò tươi, mà nguời dân bản xứ hay dùng trong phương dược và trong ẩm thực chè và món cà ri khoái khẩu… Trong khi đó, nền công nghiệp chính quốc cũng bắt đầu cho lên ngôi những chế biến phó sản từ nước cốt dừa làm kẹo, hóa lọc dầu dừa thành sản phẩm xà bông hay còn gọi là xà phòng… Thậm chí, nguời ta còn tận dụng các phó sản khác của dừa, để chế biến thành nhiều mặt hàng tiểu thủ công nghiệp rất phong phú, đa dạng... Như bện xơ dừa thành dây thừng, tạo nguồn than hoạt tính từ gáo dừa; hay chế biến vỏ dừa, xơ dừa thành nguồn phân bón và giá thể cho trồng trọt rau màu, hoa cảnh; kể cả sử dụng gỗ dừa trong xây cất dân dụng, bắc cầu khỉ, trang trí nội thất, vân vân và vân vân...

Tôi thử tóm lại câu chuyện ngụ ngôn của quả dừa con... Nói chung, kể từ năm triều đình Huế bó tay trước đại họa thực dân, cắt đất “lục tỉnh Nam kỳ” cho thực dân Pháp… thì kỹ thuật khai lập vườn dừa cổ truyền từ đó được biến thái qui mô, như là đồn điền giàu có của địa chủ và thực dân phong kiến… Rồi trải qua 2 thời kỳ chiến tranh và kháng chiến kéo dài ngót 3 thập kỷ, để lại di họa với bao thảm cảnh rừng dừa tan hoang, điêu tàn... Đến khi hòa bình lập lại, thì sức sống lưu niên của rừng dừa nơi nơi dần dà được hồi phục, cùng tăng trưởng, thăng trầm với các hệ cây trồng công nghiệp như cao su, cà phê, trà... mang lại nguồn sinh lợi phú túc cho nhà vườn, bỏ qua nhiều mô hình thực nghiệm khoa học kỹ thuật trồng trọt bất thành như “3 tầng sinh thái”, lai giống dừa đặc chủng, cao sản, vân vân...

Chợt có một bầu mây dọa mưa bay qua, làm dịu cơn nắng gắt... Nó khiến tôi nhớ ra thời vận kinh tế toàn cầu và khu vực luôn biến động thăng giáng khôn lường, có đầu vào không có đầu ra và ngược lại, vân vân... Và hiện nay, do phụ thuộc thời vận thị trường khủng hoảng “xập xí xập ngầu”, nguồn lợi phát sinh từ dừa rất bấp bênh, khiến nhiều vùng rừng dừa bạt ngàn trước đây, được qui hoạch thành vùng đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Thậm chí, vì sinh kế, nhiều chủ vườn chạy theo thị hiếu thị trường, đốn bỏ vườn dừa, để đánh đổi nhiều nguồn lợi cây, con, hoa màu khác!… Bằng chứng là, quả dừa con kia phải xuất thần, kể lể cho tôi nghe chuyện ngụ ngôn của đời dừa thật là đáng buồn!

Tôi e ngại nhìn kỹ quả dừa con đáng thương, bởi như nó đoán biết số phận cảnh vườn nhà này rồi sẽ phải đổi thay, một khi sang tay chủ mới… Tôi bèn xoa dịu nó với lý lẽ rằng hãy yên lòng đi... Bởi các giống dừa hiện nay có thêm một hệ phái sinh mới là dừa cảnh, được vun trồng và chăm sóc tử tế trong khuôn viên biệt thự, ở khu resort nghỉ dưỡng, để làm điểm nhấn và khêu gợi phong cách kiến trúc, thiết kế cảnh vườn văn minh hiện đại, trữ tình… Nhưng có một điều kiện tiên quyết mà giống dừa cảnh kia phải chấp nhận là… Phải triệt sản, chỉ được nở bông mà không được đậu trái!... Chỉ vì lý do bảo vệ an toàn tính mạng và sức khỏe cho thực khách, du khách thập phương bá tánh là trên hết !...

Bất ngờ, một tàu dừa khô sứt bẹ, rơi xuống trước mặt tôi, giống như một động thái phản ứng những suy nghĩ và biểu cảm tiêu cực của tôi… Vô tình, nó khiến tôi liên tưởng một thảm họa khác, khả dĩ sẽ khu triệt hoặc diệt chủng loài dừa… Tôi hiểu ra nỗi sợ hãi đó, khi biết rằng trên bàn tiệc thù tạc, bàn nhậu bạn bè và ngay trong bữa cơm gia đình… món gỏi hay món xào củ hủ dừa với thịt ba rọi được lên ngôi đặc sản là rất chân quê mà cũng rất thịnh soạn... Vậy mà mấy ai thiết nghĩ rằng mình đang xơi ngon lành một kiếp dừa rất dễ thương...   

Nắng xế càng thêm gay gắt, oi bức... Tôi bèn cởi áo sơ mi, ở trần cho nó mát, nhìn khắp khu vườn dừa không còn che mát những bờ mương đất khô ran, cỏ dại le hoe, chạy dọc chạy ngang theo những mương nước cạn queo, sạt lở... Bóng dừa trưa say nắng, như đang đu đưa giao hợp với bóng cam, quít, bưởi, xoài, mít, mận đã qua mùa trái, trở nên còi cọc, già cỗi… Rồi cơn buồn ngủ thiu thiu chợt đến, tôi mơ màng hình dung như mình đang có mặt tại một diễn đàn chuyên đề về thực trạng và giải pháp cho đầu vào và đầu ra của sự nghiệp trồng dừa, ở khu vực đồng bằng châu thổ Cửu Long giang...

Tôi nghe như có một vấn đề được đặt ra từ tâm thế của giống dừa lão hiện nay... Vốn là có sự thiếu công bằng đối với loài thảo mộc, thực vật nếu so với giá trị kinh tế của động vật và khoáng vật... Bởi nếu đầu tư công sức và vốn liếng trọn gói, đến khi “được mùa, rớt giá” thì huê lợi ròng hàng tháng của 1 thiên dừa khô vẫn khó bề sánh bằng việc xuất chuồng 10 con heo thịt đủ tạ, có trị giá thu mua của thương lái khoản hơn nửa tấn heo hơi... Nhưng chắc gì đến khi gom đủ được tiền lãi ròng bán dừa, bán heo... liệu có mua nổi 1 lượng vàng 4 số 9 để mà để dành? Với cái cảnh thu nhập phập phù đó, chủ vườn dừa, chủ trại heo không khỏi cụt vốn, đổ nợ!... Và với họ, vàng bạc hay đá quí có khi chỉ là mơ thôi!... Nên chăng, có nhập cuộc với những chủ vườn dừa phải giải nghệ, phải ra tay phá vườn để đào ao nuôi tôm cá, mở quán cà phê sân vườn... thì mới thông nổi những lý do kinh tế thực tế khó tranh cãi! Tôi chợt nhớ câu đồng dao hồi còn bé tắm truồng, ca thán tình cảnh éo le này: “A lô! A lô ! Dừa khô lên giá... Ai có má đi đổi dừa khô !”... Tôi bèn định thần, hỏi lại trái dừa con mày nghĩ sao?

Tôi lại nghe trái dừa con lên tiếng... Suy cho cùng, nguời làm ruộng trồng lúa, làm vườn trồng dừa, hay rau, củ, quả... cung ứng cho cả thị trường chay mặn đều dùng được, mà cuối cùng họ vẫn luôn chịu thiệt thòi, vậy là sao?... Cái ẩn số này là của một phương trình kinh tế, đang được các nhà định hướng kế hoạch và đầu tư tìm cách giải, chưa có đáp số chính thức, há chi là trình độ tính toán dốt nát của dừa con!...   

Rồi tôi nghe như có câu trả lời chung chung từ giống dừa tơ ngoại nhập... Rằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu giờ đây, vai trò bảo vệ, bảo dưỡng, bảo tồn tối ưu thảm thực vật xanh, có kể đến thảm họa tàn lụi của rừng dừa, cùng các loài rừng cây thủy sinh, đang được nghị trình, nhằm đối phó thực trạng và hậu quả gia tăng hiệu ứng khí hậu nhà kính... Nhưng đó cũng là vấn đề kép về khoa học và kinh tế toàn cầu, rất nan giải!... Bởi muốn tái lập ưu thế thảm xanh thực vật, không chỉ nói riêng cảnh rừng dừa, càng không thể đơn giản hóa vấn đề như quan niệm tiêu cực xa xưa là “trời sinh voi, sinh cỏ”!... Mà vấn đề cốt tử là phải tái tạo tất cả các chủng loại rừng bị tàn phá, kể cả những rừng dừa đa chủng hệ... Phải thu dọn nền công nghiệp thải khí bẩn... Phải đầu tư chất xám, công nghệ, công sức con người cho toàn cục sự nghiệp chống biến đổi khí hậu toàn cầu... Nhưng vấn đề là lấy tiền từ đâu mà đầu tư?...

Chợt một cơn gió nổi lên từ hướng sông, khiến tôi tỉnh giấc mơ màng!... Tôi nhớ lại mình có giải thích với Thầy Đường về mục đích tậu dựng cơ ngơi này, với ý định mạo muội là thử gầy dựng một khu nhà nghỉ dưỡng sinh, kết hợp trị liệu bệnh cho người già neo đơn, đặc biệt là Thầy cũ và bạn cũ của trường xưa... Và cơ may cuối cùng đưa đến, nhưng vẫn còn băn khoăn là phải tính toán thiết kế như thế nào, khi nào sẽ khởi công và hoàn thành, để không phí phạm một cơ ngơi đắc địa, thuận bề phong thủy và hợp cách cả lá số tử vi của tôi… 

   

Có tiếng chân bước đến sau lưng... Tôi ngoái nhìn, càng thêm ngạc nhiên khi thấy Thầy Đường và một nữ khách trẻ đẹp... Thầy giới thiệu ngay đây là Mỹ Cảnh, một nữ kiến trúc sư khá nổi tiếng từ năm 30 tuổi, qua tay nhiều công trình hiện đại, cao cấp... Là chỗ bạn học thân thiết của Thanh Thúy, con gái của Thầy... Và cả hai đứa đều là con cái yêu quí trong nhà, nhất là kể từ ngày Thúy đã đi du học rồi...

Thấy tôi ngượng khi vội mặc lại áo sơ mi và khẽ gật đầu chào làm quen, Mỹ Cảnh lên tiếng thật tự nhiên, rất chuyên nghiệp: “Nhìn trật tự của cảnh quang tổng thể, những gốc dừa, chen lẫn cây tạp lộn xộn quá…! Có quá nhiều mương vườn sạt lở, sẽ phải đắp bù nhiều đất cát để tái tạo và nâng cấp mặt bằng, tốn công tốn của không ít đâu!... Theo ý đồ của một công trình có công năng và chức năng của khu nghỉ dưỡng, thực dưỡng ở ven sông, thì dứt khoát phải phá bỏ toàn bộ khu vườn cây tạp nham này, để xây dựng hài hòa một cảnh vườn Zen thanh tịnh và tương hợp với hệ thống nhà bungalow tiện nghi đắc dụng… Vậy thì không cần phải vun bồi mấy gốc dừa này nữa... Có giúp lấy lại tuổi đời cho nó cũng vô tích sự... Mà nó cũng đâu còn điều kiện làm đẹp cho dòng sông, như lưu ảnh bóng dừa lãng mạn dưới lòng sông sâu như xưa kia!”... Nói xong, Mỹ Cảnh tươi cười, mở ngay tập thiết kế hoàn chỉnh trên khổ giấy Bristol A3 cho tôi xem...

Tôi sững sờ, chôn mắt vào những mẫu phác thảo mô hình hội quán, các kiểu nhà bungalow, cảnh vườn Zen, cảnh hồ bơi, nhà thể dục đa năng, câu lạc bộ thực dưỡng, phòng karaoke... Tất thảy thật là tinh tế, đường nét phối kết hài hòa, màu sắc uyển chuyển, sinh động, mang phong cách hiện đại, với dáng dấp Á Đông được Âu Mỹ hóa...

Thầy Đường bèn giải tỏa nỗi thán phục của tôi: “Con yên tâm... Thầy nhờ Mỹ Cảnh thiết kế toàn bộ khu nhà nghỉ dưỡng và thực dưỡng mà con muốn định danh là khu Hội quán Nhường Trà... Thầy nghĩ đây cũng là một cơ hội cho Thầy và Mỹ Cảnh vẫn còn có lý do để mà về lại đây, góp tay cùng con để gầy dựng nên một cơ ngơi mới, trước kia là quyền thừa kế bất đắc dĩ của Thầy; còn bây giờ thuộc quyền kế thừa của con, sẽ biến cải khu vườn xưa tĩnh mịt của họ Mạc, mà bây giờ nó đã mang danh họ của con rồi... Thú thật, Thầy và Mỹ Cảnh sẽ sẵn sàng góp công của, vì cái tâm y đức của con, và vì một địa chỉ đóng góp an sinh xã hội, xoa dịu phần nào những cảnh đời không may và bệnh tật...”

Chợt một đàn cò trắng từ đâu đâu rủ nhau bay về, đáp xuống bờ sông rửa cánh, đang lúc con nước đang lên... Và bầy chim sâu bay chuyền ríu rít hút mật hoa dừa mới nở, cũng bất chợt rủ nhau bay đi... Tôi nao nao lòng trắc ẩn, nhìn những tàu dừa lay động theo gió sông chiều, thầm nhủ từ ý tưởng đến hiện thực hãy còn xa vời... Nhưng dù gì, tôi cũng sẽ biến đổi mẫu vườn dừa này thành một cảnh quan  mới với những câu chuyện thật không cần ngụ ngôn...   



Tại phòng chờ làm răng... 15.11.2013

                        Thơ trắng
            Cát Hoàng

Minh họa: S Thống.


            1
            Lục lại bài thơ viết đã bốn mươi năm
            Tuổi học trò trắng
            Thơ trắng
            Sao chữ lòng không trắng không nguội?
            Tựa ngọc lan đêm đợi tỏa hương
            Tôi ghép tên nàng đi qua chiến cuộc
            Vụng dại gót chùn tưa tướp máu
            Đời sậy rỗng trắng lau bông chờ gió
            Ước gì được giống bạn tôi – chôn sống
            bài thơ đắm đuối hoài loài hoa mang tên con gái.
            (Hoa – tên nàng thừa một chữ g)
            Hoa trắng!
            Nỗi niềm trắng!!
            Thơ trắng!!!
            2
            Chẳng bao giờ anh quên nhủ lòng thôi đụng nhớ
            Giấc đời say tự chuốc men tình
            Ngu ngơ niềm vui mù quáng nỗi buồn
            Quả bóng yêu xoay mặt nào cũng gặp
            Chưa đau thương đã tự vấn vương
            Ẩn ý gì – khi người vẽ biểu tượng tình yêu là đứa bé trai được bịt mắt và    bị mang đôi cánh?
            Bay đi đâu hỡi trái tim non?

            Năm – tháng – ngày – giờ bao la mùa xuân bất tận
            Mấp mé thực - mơ bướm đợi – hoa chờ
            Khuôn phép trời ơi do người đặt
            Ong từ bi chết đứng ngưỡng vượt rào
            Giá Thúy Kiều sống lại thời Facebook
            Ai thèm làm Thúy Vân?
            Chẳng bao giờ anh hát khúc niệm cuối
            Mặc lệ Mỵ Nương rơi
            Mặc tim Trương Chi vỡ
            Tình yêu đầu thai tiếp cuộc con người
            Ngất ngây chơi quả bóng vui- buồn
            Xoay mặt nào cũng gặp nhớ - quên….

                                                                      An Hòa,  2.11.2013

                                                                              C.H
            Thông báo
      Cầu siêu cho thầy Bùi Văn Trọng

            Buổi cầu siêu cho thầy Bùi Văn Trọng sẽ diễn ra lúc 9 giờ ngày Chủ Nhật 24-11-2013 tại chùa Hội Phước thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, Bến Tre. Ban Liên lạc cựu giáo viên và học sinh Trường Trung học Công lập Kiến Hòa xin thông báo đến các thầy cô, các bạn để mọi người nhín thời gian quí báu đến thắp cho thầy nén hương cầu siêu.

            Thầy Bùi Văn Trọng trước đây dạy môn Pháp văn và Sử Địa tại Trường Trung học Công lập Kiến Hòa. Thầy qua đời ngày 16-11-2013. 

22/11/2013

Phèn và biển

            Lê Hoàng Minh

          Phèn ngồi trên các nấc thang dẫn lên sân thượng, im như một pho tượng, ít đi đâu lắm. Nó ngồi nhìn chăm chăm ra biển, tưởng chừng như không động đậy nếu không nhìn kỹ là đầu của Phèn thỉnh thoảng cử động nhẹ, đôi mắt ươn ướt và nhấp nháy, như có nước mắt lưng tròng. Cứ thế, Phèn ngồi rất lâu giữa những nấc thang bước lên sân thượng.
        Sân thượng được xây dựng và nối kết hài hoà với một ngôi nhà lớn, kiến trúc tạo hình theo kiểu xưa, với mái ngói phẳng và rộng giống như lăng tẩm, cung đình hoặc như những mái ngói rộng và dài của những ngôi đình làng. Ở đây, màu đỏ của mái ngói hiển hiện sự khác biệt màu sắc khi mái ngói nhô lên giữa rừng dừa xanh còn non lá, chung quanh một không gian cát vàng rộng thoáng, đối mặt với màu xanh dương của biển. Một công trình được nghiên cứu tinh xảo, ngôi nhà này khi hoàn chỉnh sẽ là một khách sạn nghỉ mát có thể tiếp đón hàng trăm khách bốn phương.
         Đứng nhìn từ sân thượng, phía sau nhìn ra biển cũng biết là chủ nhân ngôi nhà đã cố tình xây dựng theo sách phong thuỷ, gọi là lối nghinh phong, có nghĩa là đối nghịch đùa với gió, vì sân thượng là phía sau trực diện và đón gió mạnh của biển thổi thẳng vào tạo ra sự mát mẻ, đối lại cái nắng gay gắt ban ngày. Và cũng từ đây, ta có thể nhìn từ trên cao quang cảnh bao quát hình cánh quạt của biển phía nam Ninh Thuận , giữa eo của các cồn cát san sát nhau mà hai bên nối lại thành 2 vòng cung, tạo nên một vịnh là nơi trốn giông bão cho ngư dân, cho các loài thuỷ tộc,  nên thủy sản rất dồi dào.

Bãi biển Mũi Né.

          Nơi Phèn ngồi, vẫn ngồi như bất động từ bao giờ, đi lần theo các nấc thang đưa tới đường lên sân, bước qua sân rộng nhìn thẳng ra biển và cuối cùng phía bên kia sân thượng lại có những nấc thang đi xuống đến đường dẫn thẳng ra biển.
Phía bờ biển là những cồn cát cao tiếp nối nhau lô nhô lên, sắp lại bờ biển cát thành một vòng cung, từ lâu đời rồi, bây giờ thì đã được cây phi lao bao bọc lại. Nhờ thế che chở của rặng phi lao mà những loại thảo mộc khác có thể được bảo tồn mọc lên trên lớp cát hoang dã, đóng góp vào đời sống thiên nhiên bằng những bông hoa nhiều màu sắc. Cũng nương nhờ vào sự điều hoà này mà hàng nghìn gốc dừa từ Bến Tre đã được những nghệ nhân tạo cảnh đem về đây trồng. Sau khi bỏ gốc chừng chín tháng thì cây dừa non bám rễ, chịu được nước lơ lớ mặn, làm quen với gió và cát, nối nhịp cuộc sống mới, bắt đầu đưa ra những tàu lá xanh còn non xinh đẹp. Sự thay đổi mà những thợ tạo hình đóng góp càng làm cho quang cảnh thêm nhiều sắc thái hữu tình hơn đến vùng gió cát biển xanh, giữa sự hoà hợp cát vàng hoe lẫn với màu xanh dương của vùng biển mặn này.
Trong cái thanh vắng của một vùng đất rộng, biển bao la và vắng vẻ, tôi có dịp thân thiện mỗi ngày một hơn với Phèn. Mấy hôm liền, cứ ban ngày, tôi vẫn gặp Phèn ngồi ở các nấc thang dẫn lên sân thượng. Nó không đi đâu xa hết, ngồi nhìn chăm chú ra biển như dõi mắt canh chừng điều gì đó. Mỗi lần tôi đi ngang qua, ban đầu Phèn tránh qua bên một chút , vẻ khép nép, đầu cúi nhẹ xuống khi tôi bước qua. Mặc dù chiều ngang của các nấc thang rộng cỡ 2 thước, đủ để 2 người bước qua cùng một lúc mà vẫn không chạm đến nhau, nhưng Phèn cứ khép nép im lặng và cúi đầu khi tôi bước ngang chỗ ngồi thường nhật của Phèn, cứ như là một tu sĩ đang mùa tịnh tâm.  
          Từ 3 tuần nay, Phèn vẫn ngồi như vậy, từ sáng sớm, với tư thế nhìn ra biển. Khi tôi đi ngang qua các nấc thang lên sân thượng, Phèn chỉ nhìn tôi lơ đãng, không buồn cử động, nhưng trong ánh mắt có chút sợ sệt, nghi ngờ.
Tôi được biết là vừa qua, Phèn đã gánh chịu nhiều oan trái. Chị Hai - người nấu bếp và là người nuôi Phèn, kể lại:
          - Con Phèn, chị tặc lưỡi rồi chậm rãi kể tiếp. Tháng trước có 4 con tất cả: Phèn, con cái và 2 con chó nhỏ, đó là cả gia đình của Phèn. Gọi tên nó là Phèn vì lông của nó nâu hung hung đỏ như màu phèn của nước sông ở Miền Tây của mình. Con cái cũng giống nó, tên là Nâu. Hai con chó con là Chàm và Vện. Cả 4 con đều màu nâu hung hung như nhau, có mũi đỏ và mắt đo đỏ. Chúng là  chó  giống của đảo Phú Quốc nên có lớp lông ngắn và mịn, trên lưng có xoáy dài từ lưng trên đến giữa 2 chân sau của chúng. Nơi có xoáy thì lông dựng đứng lên, ra dáng dũng cảm, làm cho chúng có vẻ nhanh nhẹn khi chạy phóng lên với dáng điệu của con ngựa. Vóc dáng của chúng thon nhỏ, 2 tai sửng cao; với cái trán nhô ra, trông giống với loài cáo. Là một giống chó nhanh nhẹn và rất hiếu động, chúng ít khi sủa, sống rất tập đoàn và gia đình. Là một giống chó hiếm và quý, 4 con chó đến vùng biển nầy cũng phù hợp với gốc gác quê hương biển đảo của cả gia đình con Phèn.
          Chúng thích biển, lúc nào cũng lao đầu ra biển để săn tìm mồi. Nếu ở Phú Quốc, chúng chạy quanh bờ biển săn cá mực, lột vỏ gai gốc của con nhum để ăn ngon lành, hoặc hăm hở lao mình xuống biển đùa giỡn với sóng nước để được tắm rửa tự nhiên nên rất sạch sẽ. Chúng về đây sống cũng là nơi có gió biển nên chúng thật sung sướng, nhưng…
Chị Hai đầu bếp lo mọi việc ẩm thực cho khách sạn còn đang xây dựng. Chị đến ở đây phụ trách nấu nướng cho đội thợ đang thi công cho  đến lúc hoàn chỉnh khu khách sạn này. Chị nuôi nấng con Phèn và thương yêu gia đình của nó. Chị kể tiếp câu chuyện xảy ra cho loài vật nhưng đã làm cho chị ray rứt. Giọng của chị có khi lớn, có khi như thấp xuống hoà với gió  dâng biển lên theo con nước, cuốn theo cát rồi đổ đều xuống mái tôn sau nhà bếp, tạo nên một màng trắng đục. Người nuôi con Phèn với giọng nói trầm bổng, mắt nhìn ra biển, tiếp tục kể:
          Một biến cố thương đau đã xảy cho gia đình của Phèn, có ai ngờ được đâu? Khi gia đình chó được đưa đến đây, chúng rất sung sướng, ngày nào cũng như ngày nấy. Lúc còn nhỏ, Vện và Chàm không đi xa lắm, chỉ quanh quẩn trong nhà . 2 con lớn thích biển lắm. Cứ mỗi sáng khi mặt trời vừa hừng đông, hai con lớn Phèn và Nâu đùa nhau chạy thẳng xuống biển, nhanh nhẹn chay vòng quanh các ngõ cát đất, nhảy trên sóng, đùa giỡn và bắt cá. Rất nhiều cá mú, cá bạc má theo sóng đánh tấp lên cạn. Cặp chó đến chực chờ và bắt rất nhanh nhẹn. Chúng luôn thích ăn cá tươi trên bờ biển. Khi ăn no, chúng tìm cua biển để đánh bắt như đùa giỡn, tắm biển sạch sẽ, giũ nước xong, cứ như thế mãi đến xế chúng mới về  nhà, mồm vẫn nhai lại những mảnh xương còn sót lại.
        Buổi chiều, chúng đùa giỡn với nhau dưới sân thượng. Có những đêm trăng, cả 4 con cùng nằm bên nhau trên bãi cát nhìn theo sóng biển. Cảnh đầm ấm của gia đình Phèn kéo dài vài tuần lễ thì đau thương giáng xuống. Ngày hôm đó - chị hai ngừng nói đưa tay chỉ ra bờ biển - ở đây đây!
       Chị Hai dừng lại giây phút.
      Bọn bắt chó bằng Honda, chúng ác lắm, đi bắt chó của người ta! Chúng đánh đập, tra tấn để con chó không kêu lên, chúng thắt cổ cho con chó bị nghẹt thở. Bọn chúng đi trên 3 chiếc xe Honda, mặt đằng đằng sát khí, có đứa kéo gậy và dây thòng lọng, bắt chó bỏ vào cần xé rồi chở đi…
-                    Ác nhân, đi ăn thịt chó của người ta, quân ăn cướp - chị nói nhỏ một mình như nguyền rủa...
      Hôm đó, con Nâu bị bắt kéo đi. Thật tội nghiệp, tôi còn nghe tiếng nó tru lên thảm thiết. Nghe tiếng nó tru lên đau đớn, tôi chạy ra thì thấy con Phèn lúc đó cũng đang bị dây thòng lọng tròng vào cổ. Chúng kéo lê con Phèn trên mặt cát.  Khi tôi trông thấy và la lên, bọn ăn cắp hối hả bỏ Phèn vào cần xé cột đằng sau xe,  rồi 3 chiếc Honda phóng đi rất nhanh. Con Phèn vùng vẫy mạnh đã xé vỏ, rớt xuống đất rùng chân đứng kéo lại rất dũng cảm. Chân nó lướt trên bãi cát, xe bị vướng chiếc Honda thứ hai quấn dây cần lái nên xe ngã và 2 người trên xe ngã chúi xuống đất. Chúng xăm xăm lại dùng roi đánh con Phèn rất tàn nhẫn. Con Phèn cố gắng kéo dây chạy trối chết, kéo  giựt ngược.  Chiếc Honda bị lún cát không thể lăn bánh. Vì có tôi đang kêu cứu nên chúng đã bỏ dây thả con Phèn để  kịp  thời chạy trốn, mang theo con Nâu đã bị siết cổ.
       Tội nghiệp Phèn, mình vấy máu, nó đứng trên bờ biển tru tréo theo tiếng sủa kêu cứu của con Nâu nhỏ dần. Nó nhìn theo 3 chiếc Honda, đôi mắt ướt, nước dải lòng thòng và rên rỉ rất lâu rồi mới theo chủ. Về đến nhà, nó liếm các con của nó, tru lên từng hồi dài và sủa sảng lên suốt đêm một cách tức tưởi…
        Thật là một sự việc thương tâm. Dù là thú vật đi nữa thì phản ứng của con Phèn dễ gây xúc động. Không hiểu lương tâm con người của bọn bắt chó ở đâu mà nhẫn tâm đi ăn cắp và lòng dạ nào mà có thể ăn thịt chó? Loài người có đủ mọi thứ để ăn ngon và để sống, đâu cần thiết phải ăn thịt chó. Ai cũng hiểu là con người có thể ăn mọi động vật, nhưng chó là loài vật chung thủy với con người nhất kia mà. Nó là loại động vật gần gũi, sống bên con người như chủ và tớ sống chung một nhà với nhau, đến đỗi được con người giao cho nhiệm vụ giữ nhà. Khi giữ nhà thì nó đã làm nhiệm vụ lớn và được sự tin tưởng của con người rồi. Nó lại là  con vật biết vui khi chủ về, biết chào đón mừng rỡ, biết buồn khi chủ buồn, như một người bạn trung tín. Nó có thể dễ dàng tha thứ dù có khi bị bạc đãi, tại sao con người lại lãnh cảm đến có thể ăn thịt chó? Khi con chó là bạn trung tín từng ở chung một nhà với mình nhỉ?
         Thật là không làm sao hiểu nổi lòng dạ con người!
         Như vậy là 2 con chó con bụ bẫm Chàm và Vện bị mồ côi. Chị Hai thấy tội nghiệp nên gửi  chúng về Sài gòn để được nuôi dưỡng chu đáo hơn. Nhưng than ôi, không chịu được khí hậu nóng bức của thành phố, phải ở trong nhà phố không có bờ biển và gió, 2 con chó con đều bệnh và chết đi…Giống chó Phú Quốc quen sống ở hải đảo, chúng không chịu được sự đóng kín và thiếu gió biển!
        Mấy ngày qua, khi tôi đi qua lại, con Phèn cũng đã quen với tôi, nhận những cái vỗ đầu môt cách thông cảm, rồi nó bắt đầu đi theo tôi, đùa với trái banh tôi liệng cho nó. Con chó nào mà không thích đùa với banh? Tôi gọi Phèn ra biển với tôi, năm lần bảy lượt nó theo chân tôi, nhưng khi ra đến bờ ranh, nơi hàng cây phi lao chắn gió giữa bãi biển và ranh nhà thì nó dừng lại nhìn ra biển chứ không đi tiếp. Rồi nó đi ngược trở lại, mặc tôi kêu nó. Lần này nữa, tôi gọi Phèn và đi chậm bên nó, vừa khum lưng ra dáng chồm tới trước, 2 tay vỗ đánh nhịp như đang chạy, làm cho con Phèn hứng khởi đi với tôi qua bên kia  bờ phi lao là trên bãi biển. Lúc đó, chợt có tiếng xe Honda, con Phèn cắm đầu, co đuôi chạy trở vào nhà…
        Ngày hôm sau, con Phèn lại ngồi ở giữa các nấc thang nhìn ra biển. Tôi định không để ý đến nó, nhưng khi thấy tôi đến bờ biển, nó đứng dậy ve vẩy cái đuôi chờ đợi nhưng vẫn không bước tới. Tôi  đi ngược trở lại và vuốt đầu nó, rồi từng bước đưa nó ra bên bên bờ phi lao, dừng lại ở đây để nó có thể nhìn chung quanh. Sau giây phút , một cách tự tin, nó chồm lên đi bằng 2 chân nhiều bước, quay vòng quay vòng. Hàng phi lao thả cành và lá la đà xuôi theo chiều gió, kiên nhẫn đứng chắn gió biển để lọc cát, chặn đứng các đồi cát cứ theo gió xoay dần. Gió từ biển xa thổi lên mang theo những làn bụi nước man mát; con chó chạy vòng, những vòng lớn hơn và sóng biển vỗ xuống người nó.
       Con Phèn như say sóng, xoay bên phải chạy một vòng, luồn bên trái chạy vòng qua lượn lại, những lượn sóng đang nối nhip trên mặt biển, những lượn đi hàng đầu vào bờ, xếp lên nhau cuốn thành những cuộn nước tràn lan và vào bờ rào rạt, từng đợt sóng dập xuống làm tung tóe lên, làn nước trắng tạo nên muôn ngàn những bong bóng nước trắng xóa vỡ ra rì rào, những làn sóng bạc đầu lại đưa lên cao rồi cuốn lại như ôm vào cuộn nước những gì nó chạm đến. Con Phèn chạy nhảy theo từng làn sóng đang bủa lên cao, cất tiếng sủa theo tiếng dập của sóng mỗi lúc sóng đánh chạm bờ cát, tiếng lao xao của những bong bóng nước vỡ tan theo khi nước tràn lên bãi và trở thành những vùng bông trắng lan rộng trên mặt biển. Khi nước rút ngược lại sau con sóng, làm cho từng vùng hoa trắng chen nhau theo sóng nước hợp tan từ bờ biển ra tận ngoài xa.
       Bộ lông màu nâu của nó ướt sũng, nó chạy nhảy với sóng như thế cho đến lúc thấm mệt mới dừng lại, bước chậm với hơi thở hổn hển, lưỡi thè dài ra. Bây giờ, nó mới chậm bước theo bìa của con sóng, nhanh chân nhảy vồ lên những con cá vừa mắc cạn còn nhảy lưng tưng chưa tìm ra mực nước. Nhanh chóng khi thấy được con mồi, nó đứng chặn lại phía nước sâu, nhảy lên đặt 2 chân trước đè lên 1 con cá bạc má. Đầu của con cá đã bị nó cắn và kềm giữ chặt lại. Một chút máu tươi chảy ra bên mép, nó ngừng chân lại giây lát, rồi chậm rãi bước lên trên khô, thưởng thức bữa ăn đồ biển tươi mà nó đã nhịn từ mấy tuần nay.
        Nó lại chạy ra biển, sủa lên những tiếng rất ngắn và vội vàng, tiếp tục đuổi bắt cá, trông nó thật là hăng hái, như một ngư dân nhanh nhẹn và thành thạo. Buổi chiều, nước biển đang lên, trăng 16 lên cao lơ lửng trên hàng phi lao thả mình theo gió. Trăng chưa tỏa ánh sáng trên triền đồi cát xa lúc bóng chiều chưa vương. Trăng thượng tuần tròn lơ đảng chờ bóng đêm để tỏa ánh vàng; mặt biển đã dần sạm màu sớm hơn khi mặt trời tắt nắng chìm xuống sau lưng đồi. Sóng vỗ theo con nước đang lên càng mang theo những cuộn nước bạc màu nối nhau từ xa lắc, gửi lên bãi những vùng hoa trắng và vỡ tung ra theo vòng cung của bờ biển, tạo nên những vùng bong bóng trắng quay thành vòng, lan rộng ra, biến thành những vòng hoa tròn đều đều nối nhau sau mỗi làn sóng vỗ vào bờ, rào rạt trên mặt biển thì thào theo gió đưa.
      Gió như đưa trăng lên cao hơn mỗi lúc khi màu vàng của ánh trăng càng rõ rệt thì màu sóng vỗ trên bãi cát càng lan rộng ra hơn với ánh trăng bàng bạc phản chiếu.
Con Phèn không đi đánh bắt cá nữa, nó chạy lên phía trên bãi cát để đùa với những con cua biển. Bắt cua không phải dễ, phải có thế, khi con cua đang ở tư thế chiến đấu, chỉ cần sơ hở là bị nó kẹp trong 2 cái càng sắc bén.


        Con Phèn có vẻ ý thức điều ấy và chậm rãi theo đuổi con cua biển đang chạy ngang và đưa đôi càng mở toang hoác ra trong tư thế quyết chiến. Con Phèn chạy vòng ra phía lưng con cua, vòng lại phía trước để buộc con cua rời bỏ tư thế, và chờ lúc sơ kỳ bất ý, cắn 1 cái càng lớn nhất của con cua, xách lên cao, hất và lắc nhanh thật mạnh cái đầu để làm  cho gãy 1 càng, con cua rớt xuống. Nó vòng lại và cắn đến càng thứ 2. Khi còn cua bị  gãy hết cả 2 cái càng, hết vũ khí tự vệ, nó mới cắn và ăn con cua.
       Ánh trăng đã toả sáng giữa vòm trời trong xanh bao la. Đêm cận ngày Rằm chỉ có vài ánh sao lấp lánh, trên tầng xanh thăm thẳm của trời cao, dưới biển xanh lồng lộng chỉ còn các đốm trắng của sóng xa vỗ về, mặc tiếng rào rạt cũng trở thành thanh vắng giữa mênh mông.
       Con Phèn cũng đã no, nên bắt được con mồi nào mới thì mang lên phiá lau lách, bươi 1 lỗ khá sâu rồi lấp đất lại kỹ lưỡng. Mỗi lần như thế, mũi con Phèn nhô ra, nhìn trước nhìn sau trước khi chôn sản phẩm, phải kín đáo và không có mặt 1 động vật  nào khác nó mới lấp đất, nếu lỡ có một con khác trông thấy, nó sẽ thay đổi chỗ chôn để giấu đi ở một nơi khác .  
      Trong tất cả số cá mà chiều nay mà con Phèn bắt được, chắc chắn nó sẽ không làm sao nhớ hết những điểm chôn giấu mà nó đã đào xới và lấp đi lấp lại. Bản năng sinh tồn qua cách xử lý để dành thực phẩm của giống cho Phú Quốc này cũng tương tự với cách các loài gặm nhấm sống bằng hạt trái cây hay ngũ cốc như sóc. Chúng cũng có ý thức chôn giấu dự trữ ngũ cốc sau khi đã ăn no, và với bản năng của chúng đã biến chúng thành những nhà bảo vệ môi sinh và môi trường một cách trung thành và tự nhiên.
       Giống ăn thịt cá, qua sự chôn giấu để dự trữ, cho dù có quên đi thì cũng góp phần làm sạch môi sinh là một hành động rất cụ thể góp phần quét dọn thiên nhiên. Trường hợp của con Phèn cũng giúp dọn dẹp bờ biển, xới đất, chôn những con cá chết trước khi bị phân hủy; những giống gặm nhắm thì lại là nhà trồng trọt của thiên nhiên, đi cấy cây giống, chỉ cần chúng không nhớ đã chôn hạt giống ở vài nơi, thì nơi đấy sẽ nảy mầm nên cây . Giữa 2 nền xanh thẳm thì ánh sao xa lạc lõng, vài vì sao của đêm trăng như ánh mắt lung linh từ đâu đấy dõi nhìn khi bóng  đêm chùng xuống, mặt biển đưa lên những con sóng bạc lấp lánh dưới ánh trăng lu, hơi nước dao động càng mạnh hơn, hoà với gió hơi nước như màn bụi trắng đưa vào không gian thành hơi sương lành lạnh.
       Chợt có một bóng đen nhanh như chớp loáng thoáng phóng chập chùng trên mặt sóng. Sột soạt, dưới ánh trăng bạc, lấp lánh trên mặt sóng phản chiếu ánh trăng, giữa làn sóng một cuộc chiến đấu sống còn của 2 còn vật đang xảy ra. Con Phèn đang đứng thẳng lên, mồm cắn vào một bóng đen dài hơn nó, đầu nó vắt qua vắt lại, bị phản ứng nó té xuống biển, vùng đứng lên dùng 2 chân trước đè xuống con thủy quái, sóng rút xuống để lộ 1 con rắn biển to lớn, dài chừng 2 thước đang vùng vẫy vì bị thương và há miệng thịnh nộ lại con Phèn. Bị con Phèn đè 2 chân, nó lách mình phóng tới, và lại bị con Phèn cắn phía trên đầu. Lần này, con Phèn dùng sức kéo con rắn biển lên trên bờ cát.
       Con rắn cắn vào chân con Phèn. Nó sủa lên, cắn vào cổ con rắn. 2 cái răng nanh của nó siết chặt 2 bên đầu của con rắn, con rắn nước giãy giụa, con Phèn kéo nó ra khỏi nước.
Trên mặt cát, nó vùng vẫy điên cuồng. Ra tới bờ cát, con rắn biển không còn dũng mãnh như trước, chỉ vùng vằng dưới chân con Phèn và bị mồm nó cắn nhiều lần vào phía sau đầu làm con rắn chỉ còn cách từ từ giãy chết.
      Trăng đã lên cao. Ánh trăng chênh chếch. Con rắn nằm ngay trên bãi biển. Con Phèn sủa lên vài tiếng như thách đố biển xanh, không buồn ngó ngàng đến chiến lợi phẩm hay thành tích mà nó vừa chiến đấu. Nó đến ngồi bên cạnh chân tôi, hơi thở mạnh mẽ, ngồi chồm hỗm xuống nhìn ra biển xa. Trăng sáng tạo nên một màu sắc phản chiếu trầm lắng từ đôi mắt của con Phèn cũng giống như những vì sao xa lắc nhìn ra biển.
      Ánh trăng rơi chập chờn theo dao động của những tàu dừa đong đưa theo gió, những tàu dừa non vươn lên vừa phủ lên mái ngói của ngôi nhà xây như lăng tẩm xưa. Đêm chùng xuống, chỉ còn tiếng sóng rì rào, loang loáng bóng trăng soi trên từng con sóng nước vỗ về, vẽ nên những vùng hoa biển sống động lớn dần ra, mang ánh trăng lu lấp lánh tỏa ra trên mặt sóng nước trắng xóa giữa lòng biển đen.
      Người nhìn trăng, Phèn nhìn biển…




   (Đêm Mũi Né, tháng 11/2012)
Những ngày xưa thân ái

            Hồi ức của Tuấn Ngọc

            Ở tỉnh lỵ Bến Tre (Kiến Hòa) trước năm 1975,  không có những điểm cho thuê phòng ở như hiện nay. Chỗ ở trọ là những ngôi nhà rộng, gia đình tại đó ít người hoặc là nhà phố cho mướn dài hạn. Số người đến ở trọ tại tỉnh lỵ Bến Tre thời đó là những thầy cô ở Sài Gòn đến dạy học tại Trường Trung học Công lập Kiến Hòa, số ít dạy ở Trường Bán công Tân Dân, Tư thục Bồ Đề, nhưng số nhiều là các học sinh đến từ các quận (huyện) xa trong tỉnh như Ba Tri, Thạnh Phú chẳng hạn. Các học sinh ở nơi gần hơn chút như quận Trúc Giang (Châu Thành), dù có thể qua lại Trường Kiến Hòa nhưng không thể đạp xe nổi suốt tuần, tháng này qua tháng nọ nên vẫn phải tìm một chỗ trọ tại tỉnh lỵ Bến Tre. Các học sinh này, hầu hết là học sinh lớp 10 (đệ Tam) trở lên, ngay lứa tuổi đó mà đã phải làm quen với cuộc sống xa nhà, tự lập. Riêng các thầy cô thì tìm đến những hộ gia đình tương đối khá giả xin ở trọ hay mướn riêng cho mình căn phố. Tất nhiên, thầy cô có tiền nhiều hơn học sinh…Vả lại, thầy cô có phong cách sống riêng, kín kẽ. Có cô ở nhà trọ nhưng đến trường bằng xe xích lô đạp; có cô đến trường luôn mặc áo dài tím thướt tha; có thầy đi bộ rẹt rẹt đến trường, bỏ áo vô quần tươm tất nhưng có vẻ không kịp… chải đầu, trông rất bụi.
            Lên lớp đệ Tam (lớp 10) vào năm 1969, lớp tôi có 3 bạn quê Ba Tri, trong đó 2 bạn đã có xe Honda 67, Honda 72. Xe Honda tuy không còn mới lắm nhưng vào thời đó mà cha mẹ mua chiếc Honda cho con đi học xa, kể ra gia đình các bạn đó cũng khá. Trong khi đó, các bạn ở thành, hầu hết ôm tập đi bộ hoặc chạy xe đạp, hầu hết chưa dám “dê gái”. Những chiếc xe đạp được o bế sạch đẹp, nhẹ đạp để có thể ra vào từ vùng ngoại ô. Lâu lâu, tôi “gạ” với một bạn để được theo xe đạp ra chơi với ông bà tôi tại ấp Mỹ Hóa I. 3 bạn này ngồi học gần nhau, nơi bàn cuối, thầy cô thường gọi đó là…xóm nhà lá.
            3 bạn hùn tiền với nhau, xin ở trọ một ngôi nhà khá rộng rãi gần chợ Ngã Năm. Bà chủ ngôi nhà này là người phúc hậu. Biết các học sinh ở xa, hiếu học, gần tuổi quân dịch nên bà chủ chỉ nhận tiền tượng trưng. Ở càng lâu ngày, thấy các bạn sinh hoạt sống nền nếp, siêng năng, bà chủ càng thương mến hơn. Có hôm, nhìn cây đàn guitar của một bạn treo lủng lẳng bên vách, bà chủ nay 80 tuổi, kể: “Mấy hôm vào ngày Chủ Nhật, tụi nó về quê hết trơn, tôi thấy vắng vẻ quá chừng…”. Nhưng thời đó, 3 bạn tôi đã biết nhậu rồi, một xị rượu trắng pha với chai nước cam hay xá xị, gọi là trái khói, trái màu, xa nhà, buồn buồn nhậu chơi nhưng về đến nhà trọ thì lẳng lặng, bà chủ có hay biết gì đâu. Sợ lắm, nếu bà chủ hay biết, bà chủ méc má, chết luôn…Thỉnh thoảng cha của một bạn đem lên 2 con gà, một con tặng bà chủ ăn lấy thảo, con còn lại cho mấy đứa. Với con gà ấy, khi kho mặn, 3 bạn tiết kiệm được tiền mua đồ ăn ăn cơm mấy ngày. Con gà này thì đố đứa nào dám làm thịt, bày ra…nhậu chơi tại nhà trọ.
            Tôi còn có một người bạn học ở trọ tại đình An Hội. Bạn này quê ở bên Băng Tra. Hồi đó, bạn nói: “Ba tao với ông từ ở đình là người thân quen nên ổng gởi tao ở trọ tại đây”. Thấy bạn đơn chiếc, cuộc sống khó khăn, lại trọ ở đình đi học nên lâu lâu, tôi lén má tôi, múc gạo cho bạn. Gạo tôi “ăn cắp” trong khạp gạo ở nhà để cho bạn chừng  4, 5 lít thôi. Tôi bỏ gạo và vài lọ chao, vài con khô cá lù đù, đại khái là đồ khô, để lâu được, vào thùng đạn đại liên 50, đậy nắp kỹ càng rồi xách đi tiếp tế cho bạn. Thật ra, nếu má tôi phát hiện, hỏi tôi làm cái gì vậy, tôi sẽ nói thật, má tôi sẽ rất thương và còn sẽ kêu tôi múc thêm gạo nhiều hơn nữa. Song tôi vẫn thấy kỳ kỳ nên lẳng lặng làm lén. Một trưa, đem gạo đến cho bạn, mắt bạn rươm rướm, lát sau nói: “Tao ở đây khỏi đóng tiền…Đi học về, thấy ông từ làm việc gì trong đình, tao men theo, đứng hụ hợ sau lưng ông". Tôi quan sát nơi anh ngủ, đó là một tấm ván, có trải chiếu bông sạch sẽ đặt ở một góc đình. Đó là buổi trưa nhưng tôi biết khi đêm về, bạn sẽ nằm chèo queo một mình giữa những bàn thờ, tượng thờ uy nghiêm nhưng lạnh căm. Không gian âm thầm ấy chỉ những người mạnh bóng vía như bạn mới chịu nổi.
            Và 2 người bạn nữa ở nhà trọ gần bót Hội Đồng Cương. Một bạn kể: “ Hồi đó, chiều chiều con Ch. đến thăm tao thì thằng Ph. tự biết rồi lánh ra ngoài, tới khi người ấy ra về, hồi lâu mới thấy lại mặt nó…Tao cũng làm y chang như vậy khi thằng Ph. có bạn gái của nó đến…”. 2 bạn này ăn uống rất đơn giản. Hùn gạo nấu cơm chung rồi lấy kéo cắt con khô cá hố ra từng đoạn, bỏ bột nêm vào kho thành món mặn. Còn muốn húp canh thì mua thêm…gói mì hai con tôm. Có những chiều, để bồi dưỡng thêm, hai thằng đi ăn cơm ở quán cơm Xã hội gần nhà đèn (cũ). Cơm xã hội thời đó rẻ như cho nhưng đến ăn nhiều lần cũng thấy mặc cảm, kỳ kỳ. Tối tối, một thằng xách đạp chạy ra đường phố hóng mát rồi ghé lại trước đình An Hội xem truyền hình trắng đen. Xem xong, lại đạp xe long nhong trở về nhà trọ, học tiếp…
            Cảnh ở trọ để đi học chật vật, phải gói ghém như vậy nhưng khi đến trường, thấy có một cô giáo trẻ đẹp đi dạy học có người đưa rước bằng xe hơi Toyota (4 chỗ ngồi) mới toanh. Cô bước vào cổng trường với dáng thật kiêu sa. Các bạn học sinh thấy cô, các bạn đều có vẻ hít hà nhưng chắc chắn có một điều là các bạn không hề màng đến phương tiện đi đứng của một người cô, các bạn chỉ chăm lo việc học và “sợ” nhất là nếp nghiêm của thầy hiệu trưởng Trần Kim Quế . Thầy Quế cứ đi đi lại lại nơi sân trường như dõi theo từng đứa.
            Trở lại với ngôi nhà trọ gần chợ Ngã Năm, bà chủ nhà hỏi: “Đậu Tú tài Một mà phải đi lính à?”. Một bạn thở dài: “ Rớt Tú tài…”em” đi trung sĩ nhưng thằng X. đậu Tú tài vẫn phải vào quân ngũ vì với tuổi của nó, giấy hoãn dịch chỉ có hiệu lực đến cuối năm. Có điều, nó đi là đi cour sĩ quan trừ bị Thủ Đức”.

            Đó là lý do 3 bạn ấy xin bà chủ nhà cho bày tiệc nhậu tại ngôi nhà trọ mà vừa qua, cả 3 đứa đều đậu Tú Tài. Ban đầu bà chủ nhà băn khoăn, khó hiểu nhưng rồi thấy bà cũng vui vui trong buổi tiệc tiễn một người đi. Có tiếng đàn guitar cất lên, các bạn cùng hát bản nhạc “Những ngày xưa thân ái” của Phạm Thế Mỹ. Và lời ca kết thúc ngân dài:…những ngày xưa thân ái…xin gởi lại cho anh…Chiều dần tan, bầu trời hôm đó lại có trăng hoàng hôn ngộ nghĩnh…/.

Bạn Lý Ngẫu với Những ngày xưa thân ái.

Đâu hẳn thầy cô chỉ là người lái đò


            Nguyễn Bình
Hội Cựu giáo chức Châu Hòa (Giồng Trôm)



Nhiều nhà văn, nhà thơ, thậm chí cả nhà giáo đã ví von so sánh thầy cô giáo như người lái đò! Họ nghĩ rằng thầy cô giáo đưa học sinh từ lớp này lên lớp khác chẳng khác nào người lái đò có nhiệm vụ đưa khách sang sông, hay đưa khách đi một quãng đường dài để đến một bến khác.
Nhìn công việc thì tưởng chừng giống nhau nhưng thật ra nhiệm vụ và tình cảm của thầy cô giáo và người lái đò khác nhau hoàn toàn!
Ngay cái việc “chuyển bến” thôi cũng đã khác xa! Người lái đò có thể đưa khách từ “bến gần” đến “bến xa”, từ “bến đục” sang “bến trong” nhưng ngược lại cũng có thể đưa khách từ “bến xa” đến “bến gần”, từ “bến trong” trở lại “bến đục”; nghĩa là giữa hai bờ bến ấy chưa hẳn bờ bến nào tốt hơn. Ngược lại, thầy cô giáo chỉ đưa học trò đi một chiều. Chỉ từ “bến đục” sang “bến trong” và từ “bến gần” đến “bến xa” tốt đẹp hơn, từ bến bờ tối tăm đến bến bờ tri thức văn minh hơn…
Người lái đò chỉ có nhiệm vụ đưa khách sang sông hay đi một quãng đường và chỉ chịu trách nhiệm bảo toàn cho khách trên quãng đường mình chuyên chở rồi thu cước phí làm kế sinh nhai, trong khi thầy cô giáo có nhiệm vụ đào tạo một thế hệ tương lai và chịu trách nhiệm lâu dài với lịch sử như người ta đã đánh giá: “Thầy cô giáo mà dạy sai sẽ làm băng hoại muôn đời và phải chịu trách nhiệm nặng nề với lịch sử”.
Thử hỏi có mấy người lái đò biết được những người khách của mình từ đâu đến, đang vui buồn ra sao và khi đến bến rồi sẽ đi về đâu và sẽ ra sao? Thầy cô giáo thì biết rõ điều đó và bắt buộc phải biết rõ điều đó.
Thầy cô giáo nặng lòng với học sinh lắm! Một nét mặt, một cử chỉ khác thường của học trò khó mà qua mắt được thầy cô giáo, nhất là thầy cô giáo ở mẫu giáo và tiểu học. Ai xem học trò như những hành khách qua sông thì chưa phải là thầy cô giáo. Người giáo viên giỏi, không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn phải giỏi về tâm sinh lý học trò. Họ thấu đáo trình độ, hoàn cảnh, tính tình của từng học sinh mình để chăm sóc, dạy dỗ theo từng trường hợp cụ thể.
Thầy cô giáo đâu chỉ đến lớp để “tuôn xổ” kiến thức của mình, còn học trò hiểu hay không thì mặc kệ. Nếu như thế thì hàng ngày thầy cô giáo đâu phải khàn hơi lạc giọng giảng đi giảng lại bài đến chừng nào học sinh hiểu mới thôi và đêm đêm phải trăn trở nghiên cứu soạn bài sao cho học sinh dễ hiểu.
Mấy ai biết được thầy cô giáo sau một tiết dạy mà học sinh không hiểu bài đã ray rứt chừng nào? Và mấy ai biết được thầy cô giáo cũng vui buồn, hồi hộp không kém gì học sinh khi đi xem kết quả thi cử của học sinh mình?
Hơn thế nữa, thầy cô giáo không chỉ dạy học sinh bằng nghiệp vụ, bằng kiến thức, bằng tình cảm mà còn bằng cả lối sống. Thầy cô giáo là tấm gương tốt nhất để dạy cho học trò. Thầy cô giáo cũng là con người, cũng vui buồn giận dỗi, yêu ghét, ham muốn như mọi người, nhưng tất cả phải kềm nén lại. Họ phải gò mình vào cái khuôn khổ “mô phạm”. Họ không dám làm điều gì vi phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức; không hẳn họ sợ tù tội mà chỉ sợ làm đổ vỡ niềm tin của học sinh và của phụ huynh học sinh.
Hầu hết thầy cô giáo đều rất yêu thương học sinh. Nhiều thầy cô giáo có thể phạt học sinh nhưng rồi lại đau lòng rơi nước mắt, có khác gì người mẹ hiền vừa đánh con lại vừa khóc theo con! Chính vì thế có người ví “Cô giáo như mẹ hiền” cũng không sai.
Ai dám bảo rằng thầy cô giáo đi dạy chỉ là nhiệm vụ, chỉ để mưu sinh như người lái đò chuyên chở hành khách để thu phí mà không gởi gắm một chút tình cảm nào cho học trò? Nhìn các cô mẫu giáo, các thầy cô dạy lớp một lớp hai, các thầy cô dạy học sinh khuyết tật thì thấy rõ điều đó. Không có tình cảm yêu thương học trò thì không thể dạy được học trò, nhất là những lớp đặc biệt kể trên.
Có lẽ vì công lao và tấm lòng của thầy cô giáo sâu nặng như thế nên hầu hết học sinh dù đã lớn tuổi, dù có quyền cao chức trọng đều kính yêu thầy cô giáo. Hình ảnh nhiều thầy cô giáo đã khắc sâu vào tâm trí học sinh. Ít có học sinh nào hững hờ xem thầy cô giáo của mình chỉ như người lái đò mà chúng đã đi qua. Hiện tượng học sinh vô lễ hoặc đánh thầy cô chỉ là hiện tượng hết sức cá biệt.
Cũng có lẽ từ phẩm chất vượt trội kể trên nên thầy giáo được xã hội phong kiến tôn trọng hơn cha và xã hội xã hội chủ nghĩa lại cho rằng “Nghề giáo là một nghề cao quí nhất trong những nghề cao quí”. Thậm chí có người còn cho rằng “Dạy học không phải là một nghề. Đó là một thiên chức, một đam mê”.
Lẽ dĩ nhiên xã hội chỉ “Tôn sư trọng đạo” khi mà đạo phải ra đạo và thầy phải ra thầy. Vì thế thầy cô giáo luôn hết sức giữ mình. Không ai làm đổ vỡ niềm tin của học sinh bằng chính những người đã từng khuyên dạy chúng lại hủ hóa, biến chất!
Cũng lẽ dĩ nhiên, trong số quá đông thầy cô giáo thì không thể tránh khỏi trường hợp một “con sâu làm rầu nồi canh”! Những chuyện sa sút đạo đức của một ít thầy cô giáo gần đây làm cho không riêng ngành giáo dục mà cả xã hội đau lòng và phẫn nộ!
Tôi tâm niệm rằng khi xã hội đã công nhận là một nghề thì nghề nào cũng cao quí. Cho nên nhà giáo cũng không nên tự phụ rằng “Nghề giáo là một nghề cao quí nhất trong những nghề cao quí” mà hãy ra sức phấn đấu để xứng đáng với sự tôn vinh ấy và đừng để thầy cô giáo chỉ như một người lái đò!
 So sánh ví von thầy cô giáo là người lái đò không những không vinh danh thầy cô giáo mà lại còn hạ thấp vị trí, công sức và tình cảm của họ!

                                                                         
----------------------------------------------------------------------------

PC: Nguyễn Bình là bút danh của Nguyễn An Cư.
      Thầy Bùi Văn Trọng đã ra đi

           Thầy Bùi Văn Trọng sinh năm 1931, quê làng Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình nghèo khó. Năm 1949, thầy rời làng quê, sang Mỹ Tho đi học và lấy bằng Tú Tài…Năm 1967, thầy về dạy môn Pháp văn và Sử Địa tại Trường Trung học Công lập Kiến Hòa. Sau năm 1975, thầy định cư tại phố Shreveport, tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ), với đại gia đình. Thầy qua đời lúc 22 giờ 55 phút ngày thứ Bảy, 16 tháng 11 năm 2013. Bà Bùi Văn Trọng nói: “Tôi rất buồn khi mất anh Trọng, nhưng các con tôi vẫn chăm sóc tôi cũng như lo cho Ba chúng nó tới phút cuối cùng”.

            Cách đây chừng 6 tháng, thầy Trọng có về thăm quê Bến Tre và đến quán giải khát Minh Châu chung vui với các cựu học sinh Kiến Hòa, nhưng nay thầy đã về cõi vĩnh hằng. Ban Liên lạc cựu giáo viên và học sinh Trường Trung học Công Lập Kiến Hòa xin thay mặt cho các thầy cô, các cựu học sinh gởi lời chia buồn đến tang quyến, cầu nguyện hương hồn thầy sớm siêu thoát.