18/11/2013


                                               
Áo trắng ngày xưa

            Nguyễn An Cư

Nhóm bt: Bạn Nguyễn An Cư là cựu học sinh Trường Trung học Công lập Kiến Hòa, niên khóa 1964-1965 và đỗ Tú tài toàn phần năm 1971, hiện ngụ xã Châu Hòa, huyện Giồng Trôm (Bến Tre).


          Áo trắng ai bay đầu ngõ nhỏ.
          Để bên song cửa kẻ nhìn theo.
          Ngập ngừng thư viết chưa lần gởi
          Vẩn vơ trông ngóng tím trời chiều.

                   Áo trắng ai bay vào đêm vắng
                   Có người để áo nhuộm trắng đêm
                   Bài thơ tơ trắng ngu ngơ dệt
                   Áo trắng sang ngày lại trắng thêm.

          Áo trắng ngày ngày vẫn nhẹ bay
          Để ô cửa nhỏ khẽ lung lay
          Để giàn hoa tím rung rinh nắng
          Áo trắng hồn nhiên đâu có hay !

                   Chiều nay mưa đổ nhòa khung cửa
                   Thấp thoáng đầu đường áo trắng qua?
                   Tiếng con gọi bố đòi cơm tối
                   Bồi hồi luyến tiếc một thời xa!

                                      

17/11/2013

Trường xưa một thời kỷ niệm


            Nguyễn An Cư

Cứ mỗi lần nghĩ về thời học sinh hay đi ngang bờ hồ Chung Thủy là tôi lại nhớ đến mái trường Trung học Công lập Kiến Hòa năm mươi năm về trước. Nếu tôi là một nhà văn, có lẽ tôi viết một cuốn sách dày vẫn chưa hết những kỷ niệm về ngôi trường thân yêu ấy. Nào là kỷ niệm về thầy cô kính yêu, nào là kỷ niệm về bạn bè thân thiết mà cho đến bây giờ, sắp đi hết cuộc đời, nó vẫn còn roi rói, nguyên vẹn trong tôi.
Tôi vào lớp đệ thất -đệ thất 8- Trường Trung học Công lập Kiến Hòa niên khóa 1964-1965 và đỗ tú tài toàn phần rồi ra trường cuối năm 1971. Bảy năm trời đăng đẳng ấy, tôi học với hằng trăm thầy cô và thân quen biết bao bè bạn. Bây giờ tôi có thể kể tên thầy cô dạy các bộ môn ở từng cấp lớp tương đối chính xác và còn nhớ khá rõ danh sách bạn học trong sổ điểm danh được xếp theo thứ tự A,B,C.
 Năm đệ thất, đệ lục chúng tôi học trên lầu dãy A tức dãy văn phòng. Năm đệ ngũ, đệ tứ chúng tôi học trên lầu dãy D, bây giờ thuộc trường Trung học cơ sở Thành phố Bến Tre. Năm đệ tam, việc phân ban đã chia lớp chúng tôi tứ tán. Tôi học lớp đệ tam B4 và học ở dãy C đối diện dãy văn phòng. Nửa năm học 1968-1969, các cấp lớp học bậc trung học bắt đầu được đổi lại là lớp 6 cho đến lớp 12. Lớp đệ tam B4 của chúng tôi được đổi lại là lớp 10 B4 mà một số thầy cô và bạn bè gọi là lớp 10 bê bối vì dường như lớp chúng tôi là lớp tệ nhất về trật tự, kỷ luật trong khối lớp 10!


 Suốt bảy năm trung học, phải nói là cấp lớp 10 là cấp lớp quậy phá nhất. Lớp đệ thất, đệ lục thì mới vào trường, học sinh còn rất ngoan ngoãn. Lên đệ ngũ đã có triệu chứng bất kham nhưng năm đệ tứ thì thuần thục trở lại để chuẩn bị chuyển lên đệ nhị cấp vì ai học kém có thể bị đuổi ra trường tư. Lớp 11B2 và lớp 12B2 tôi học ở dãy B, năm dưới đất, năm trên lầu.
 Ở lớp 11, 12 chuẩn bị thi tú tài, đã có ý thức về tương lai nên đứa nào cũng học trối chết đâu còn thì giờ quậy phá. Chỉ có lớp 10 là rảnh rỗi và là lứa tuổi nửa người lớn, nửa còn trẻ con nên chúng tôi quậy phá tưng bừng! Dãy C là dãy trệt, phía sau là dãy nhà xe. Năm học này cô Ba Sinh làm giám thị khối lớp 10. Tan học, thay vì đi vòng ra phía sau lấy xe, chúng tôi thường nhảy qua cửa sổ để đi cho mau. Một bữa nọ tôi vừa nhảy ra cửa sổ đầu tiên thì bị cô Ba phục kích sẵn nắm đầu rồi cười cười và điểm mặt tôi: Mầy chết! Tao cho ăn quen chồn đèn mắc bẫy nghen con! Tụi bạn tôi hoảng hồn quay trở lại đi ra bằng cửa chính. Cô Ba là người ở chùa, rất hiền lại đáng bậc cha mẹ nên nắm đầu tôi và xưng hô mày tao với học trò rất thân thiện, nửa thật nửa đùa như thế. Tôi thầm nghĩ: Chắc là ăn một cấm túc (*) rồi! Nhưng không! Cô Ba nắm tóc, gục gặc đầu tôi hai ba lần và nói, lần thứ nhất tao tha nghen con. Cô bảo tôi nhảy trở vô và đi vòng trở ra lấy xe như các bạn. Vậy mà chúng tôi có sợ đâu! Có điều phải kỹ lưỡng hơn, mỗi lần muốn nhảy ra nhảy vào phải nhìn trước nhìn sau thật cẩn thận. Bữa nào cũng vậy, hơn nửa lớp chúng tôi đi ra đi vào qua cửa sổ, chỉ trừ những bạn đi bộ hoặc yếu bóng vía. Có hôm, đang giờ học, chúng tôi còn mượn lối cửa sổ để đi vệ sinh hoặc cúp cua ra ngồi ngoài quán khi thầy cô sơ ý!
Hồi đó vào được Trường Trung học Công lập Kiến Hòa là oai lắm chứ. Tỉ lệ một chọi một mà! Đeo cái phù hiệu Trường Trung học Công lập Kiến Hòa ra đường oai hơn đeo phù hiệu Trường Bán công Tân Dân hay Trường Tư thục Bồ Đề nhiều. Nhưng không hiểu tại sao chúng tôi lại không thèm may phù hiệu vào túi áo mà chỉ lấy keo, lấy hồ dán và vừa ra khỏi cổng trường đã mở ra. Còn tên và lớp trên phù hiệu thì không chịu thêu hẳn hòi theo qui định của nhà trường mà chỉ viết bằng viết nguyên tử, ít ngày đã phai mất! Có lần cô Ba Sinh vào lớp kiểm tra, cái phù hiệu của tôi sứt hồi nào tôi không hay; thế là bị cô mời lên văn phòng, bắt... cộng sổ rồi về!
Tôi nhớ có lần thầy Hậu tập dợt văn nghệ cho học sinh ở trong thư viện của thầy Đỗ Quang Hạnh. Lợi dụng lúc học sinh ra vào tấp nập, tôi ‘‘chôm’’ của thầy Hạnh một quyển sách mà bây giờ tôi còn nhớ tên là ‘‘Regard sur les romans d'Amerique’’. Tôi nghĩ ăn cắp sách đâu có tội gì. Bây giờ sách của tôi in đầy đống, giá mà có ai ăn cắp đọc tôi còn trọng thưởng nữa là khác.
Bảy năm học Trường Trung học Công lập Kiến Hòa, học sinh nam nữ chúng tôi bị xếp lớp riêng và bị tách học hai buổi riêng biệt! Thật là...’’ác ôn, vô nhân đạo’’! Bạn trai nào nhát gái như tôi thì không làm sao quen được một cô bạn gái đừng nói chi có được một mối tình vắt vai! Chỉ mơ thôi cũng không dám. Vui nhất là hôm nào đặc biệt có một lớp nữ đi học trái buổi là chúng tôi chọc phá tơi bời làm ‘‘các em’’ đi cóng giò. Ngược lại nếu chúng tôi đi học trái buổi thì bị ‘‘mấy em’’ chọc phá cũng chẳng kém gì.
Thời chúng tôi đi học, ít có dịp sinh hoạt tập thể. Lâu lâu, vài tháng một lần, có dịp được nghỉ vài tiết học cuối để tập trung xuống sân trường nghe thầy hiệu trưởng Trần Kim Quế nói chuyện thì vui đáo để. Giờ nhớ lại, thầy Trần Kim Quế trẻ mà đạo mạo làm sao ấy, đứa nào cũng ngán và ước ao sao được như thầy, vừa tài giỏi vừa đẹp trai. Thỉnh thoảng thấy thầy nói chuyện bằng tiếng Anh với mấy người nước ngoài chúng tôi càng mê và quyết chí luyện thêm ngoại ngữ. Vì thế cuối năm lớp 12, rất nhiều bạn có thể lõm bõm nói chuyện bằng tiếng Pháp với cô Bạch Điểu của mình.
Năm học lớp 11, 12 chúng tôi bắt đầu biết mơ mộng, bắt đầu biết len lén ngắm những mái tóc dài của các nữ sinh và có bạn đã tập tành... viết thơ tình. Có những buổi tan trường, bụng đã đói meo, chúng tôi còn rủ nhau ngồi nán lại các băng đá quanh bờ hồ Chung Thủy để ngắm ‘‘các em’’ đi học chiều! Phải nói chính hồ Chung Thủy đã làm cho trường chúng tôi thơ mộng hơn. Ai đã đề xuất đặt ngôi Trường Trung học Công lập Kiến Hòa bên bờ hồ Chung Thủy chắc cũng có tâm hồn nghệ sĩ lắm. Trong trường chúng tôi lại có một cây si cổ thụ rợp cả sân trường cũng rất thơ mộng. Ngồi học trên lầu cao, chúng tôi thường đưa mắt ra sân trường nhìn những rễ si lòng thòng, đong đưa theo gió. Vào mùa si đơm hoa kết trái, không biết bao nhiêu là chim trao trảo, chim sáo, chim cưỡng tụ tập về kêu hót liu lo càng làm cho khuôn viên trường thơ mộng, lãng mạn.

Hình mang tính minh họa.

Khoái nhất của học sinh là được nghỉ đột xuất. Chỉ vài tiếng đồng hồ trống giờ hoặc về sớm mà vui hết nói! Hồi còn học lớp 6, lớp 7 thì ra quán bi-da Kim Hồng phía sau dãy A thụt banh bàn. Lớn một chút thì đến hồ bơi. Lên lớp 11,12 thì ngồi ngổ ngáo trong quán cà phê Ngy hoặc Giao Châu ở góc bờ hồ nghe nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Thế Mỹ, Miên Đức Thắng...
Trải bao năm tháng, Trường Trung học Công lập Kiến Hòa ngày xưa đã đào tạo biết bao nhiêu người thành tài và đã làm rạng rỡ thêm cho quê hương Xứ Dừa đúng theo tôn chỉ nhà trường: ‘‘Hàm dưỡng nhân luân minh tuấn đức. Hoằng khai khoa học tác tân dân’’ như hai câu đối đã khắc trước cổng trường.
Thầy cũ, trường xưa, một thời áo trắng đong đầy kỷ niệm. Mỗi lần nhắc lại là ngùi ngùi nỗi nhớ...
                                                                             
                                                                                                      

(*) : Cấm túc : một hình phạt bắt học sinh ngày chủ nhật phải vào trường để nghe giảng đạo đức và làm những công việc lặt vặt.

16/11/2013

            Học sinh ở thành, thời chiến

            Hồi ức củaTuấn Ngọc

            Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong thời buổi chiến tranh nên đã nếm trải biết bao kỷ niệm vui buồn. So với trước đây, thế hệ học sinh bây giờ khỏe hơn rất nhiều. Thôi, ráng học…

            Tết Mậu Thân 1968, tôi  đang học lớp đệ Tứ 8 (lớp 9 bây giờ), Trường Trung học Kiến Hòa. Đón tết này, trong lớp chúng tôi có làm tờ báo xuân lấy tên: Tiếng nói Tứ 8. Tờ báo xuân khá dày, độ chừng 50 trang, khổ 25x35 cm với nhiều bài viết ngắn, nhiều nhất là thơ nói về quê hương, kỷ niệm tuổi học trò. Các bài ấy được viết trên giấy pelure trắng bằng viết máy hay viết nguyên tử (bút bi), tựa bài bằng viết lông nhiều màu. Trong lớp, chọn ra những bạn viết chữ đẹp, thực hiện các mục trên. Khi báo ra, lớp đem tặng cho thầy cô, các bạn trong lớp mỗi người một cuốn. Kinh phí để làm báo lớp do các bạn tự nguyện từ từ góp vô. Lúc này, trong lớp tôi, không đủ khả năng quay Ronéo bằng giấy stencil.
            Sau tết Mậu Thân, không gian chiến tranh lan đến thị thành, những lúc vào lớp học, thấy không khí ngột ngạt hơn trước đó. Trong lớp, điểm danh suốt một tháng vẫn vắng mặt 3 bạn. Một bạn học nói: “ Chắc tụi nó bận việc gia đình ở dưới quê hay bị bom đạn lạc, chết rồi!”
            Đêm ở tỉnh lỵ Kiến Hòa lúc bây giờ như mau tối, xe chạy ngoài đường phố, chừng 21 giờ đã vắng hoe.
            Đến năm lên lớp đệ Nhị (đã chuyển thành lớp 11), 3 bạn vắng mặt hồi sau tết Mậu Thân vẫn không thấy trở lại mái trường. Trong khi đó, việc học tập tại trường đã thấy khẩn trương hơn, bắt buộc học sinh có nhiều lo âu vì bắt đầu từ năm lớp đệ Tam (lớp 10), tất cả học sinh phải làm lược giải cá nhân – một hình thức quản lý con người, trình độ học vấn để được hoãn dịch vì lý do học vấn do chế độ cũ qui định.


            Năm lớp 11 là thời điểm quan trọng của học sinh trung học đệ nhị cấp vì trước tiên phải vượt qua kỳ thi Tú Tài phần Nhất (Tú Tài Một). Đậu Tú Tài phần Nhất mới lên lớp 12 (trước đó vài năm là lớp đệ Nhất). Lớp 12 phải thi Tú Tài phần Nhì (Tú Tai Hai) mới hoàn tất bậc trung học. Hỏng Tú Tài là đi lính liền!
            Vào năm lớp 11, trước tình hình trên, chúng tôi thu xếp học cours ban đêm (thật ra là tối). Hai môn học thêm chính là Toán và Vật Lý (chúng tôi Ban B). Học Toán thì học thầy Lê Văn Trinh, học Vật Lý, học thầy Đoàn Ngọc Diệp. Buổi tối, khi thầy Lê Văn Trinh vào dạy lớp học thêm, thầy mặc quần áo phẳng phiu, nói năng nhỏ nhẹ và đặc biệt thầy luôn có gói thuốc lá Pall Mall màu đỏ bỏ theo trong túi áo, dạy một hồi lâu, thầy lùi vào góc phòng học, thở khói thuốc Pall Mall. Với viên phấn trắng, thầy vẽ vòng tròn rất nhanh, vòng tròn tròn vo trên bảng. Còn thầy Đoàn Ngọc Diệp giảng bày chậm rãi như nghe từng tiếng, thầy luôn bỏ theo trong túi áo gói thuốc lá Capstan trắng và mỗi khi xả hơi, hút thuốc, thầy nhịp nhịp tàn thuốc rất nhẹ nhàng, nói đúng hơn là mũ mỹ…Khi về nhà học, học sinh nào muốn “nhái” thầy Lê Văn Trinh thì phải xung phong lên bảng vẽ vòng tròn, vẽ một lần nhưng vòng tròn phải tròn vo. Thật vậy, một bạn học của tôi, rất giỏi Toán, vẽ vòng tròn một cái, vòng tròn tròn vo rồi đi đi lại lại, rất nghiêm nhưng lại cười khà khà: “Tụi bây coi tao…giống thầy Trinh hôn?”. Riêng muốn làm giống thầy Diệp thì phải nói chu kỳ “con lắc đơn hay lắc kép” chầm chậm từng tiếng và nhịp điếu thuốc lá thật nhẹ nhàng. Chúng tôi biết hút thuốc từ năm mới học đệ Tam…
            Đêm học ở nhà (ba đứa gom lại học), chúng tôi tính thời gian học như sau: Phương án thứ nhứt là học từ 21 giờ đến 3 giờ sáng, ngủ luôn tới sáng rồi vào trường học chính. Hoặc là học từ 21 giờ đến 12 giờ khuya rồi đi ngủ để 3 giờ sáng thức dậy học tiếp, sáng lại vào trường học chính. Học như vậy sau chừng tuần lễ, chúng tôi chọn phương án học đêm ở nhà là từ 21 giờ đến 3 giờ sáng vì nếu học giữa chừng rồi ngủ 3 tiếng đồng hồ, dậy học tiếp, cứ ngầy ngật, không sao học nổi… Những khi xả hơi lúc nửa đêm, tôi đứng bên hàng rào trước sân nhà, nhìn xa xa là ánh hỏa châu treo trong đêm vắng. Ánh hỏa châu càng thôi thúc tôi lo học vì bên tai vẫn luôn nhớ lời của một người thầy: “…Đi lính là chết nghe em!”. Hai năm học luyện thi Tú Tài Một, Tú Tài Hai, có hơn 700 ngày, mắt tôi luôn cay cay vào mỗi sáng…Điều đã nửa thế kỷ qua nhưng tôi vẫn nhớ mãi là việc đóng tiền học thêm (học phí) cho thầy Trinh, thầy Diệp. Còn nhớ, khi hai thầy phát cours (tài liệu học tập) cho học trò là nhắc khéo các em đóng tiền học thêm. Đứa nào đi học thêm cũng được phát cours. Nhưng sau đó, có đứa đóng tiền, đứa không có tiền để đóng. Hai thầy không màng đến chuyện đó. Chỉ thấy đứa nào có đóng tiền thì sau đó, không hiểu bài, hỏi thầy rất hăng. Còn tôi, “học chui”, không có tiền đóng nên rất lặng lẽ, không dám trực diện với thầy. Bù lại, không hiểu bài, tôi xách cours đi hỏi các bạn, các bạn chỉ cho, điều này đã giúp tôi nhớ rất dai những công thức, làm bài thành thuộc.
            Xong Tú Tài Hai, tôi thi đậu vào Trường Đại Học Sư phạm Cần Thơ. Theo chương trình, tôi học tại đây 2 năm sẽ ra dạy trung học đệ nhất cấp. Nhưng dòng đời không êm trôi như tôi mơ tưởng. Tôi phải nhập ngũ vì thiếu điểm ở năm sau cùng. Khi vào quân ngũ, ngày ngày mồ hôi đổ, bước theo nhịp quân hành mà lòng cứ mơ về một ngày bình yên. Đêm đêm, hồn tôi chơi vơi trong làn sóng radio với bản nhạc “Một mai giã từ vũ khí” của nhạc sĩ Ngân Khánh: “Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn…Tôi trở về quê, tìm tuổi thơ mất năm nào. Tôi…được học hành như xưa…”.

Một góc chợ Bến Tre trước năm 1975 - ảnh - Internet.

            Tôi gặp lại một trong ba người bạn học trò cũ đã biệt tăm sau tết Mậu Thân sau ngày giải phóng 1975. Bạn mặc áo màu xanh lá cây, quần ny long dầu đen, mang dép râu. Trong nói chuyện với tôi, tôi biết bạn cố tránh nói những điều khiến tôi mặc cảm, chốc chốc bạn thì thào: “Mày ở trong thành là phải đi lính, còn tao, tao ở vùng giải phóng là đi Việt Cộng. Trước đây chừng tháng, tao mày gặp nhau, không biết tính sao à?”.

            Nhưng có vẻ bạn ấy rất chú ý về những con hẻm ở nội ô Bến Tre, nơi tôi và bạn từng đi qua hay cùng ngồi uống nước nhưng mạnh ai nấy trả tiền. Khi bạn hỏi tôi về một con hẻm gần lò tương, tôi nói rằng con đường xưa em đi vẫn còn đó nhưng người ấy đã về quê, dân tản cư mà... Hồi đó cô ấy đi học mặc áo dài trắng, lấy cặp múm mím che cằm, trông rất khoan thai. Tà áo trắng ấy đã bước nhẹ vào tim của nhiều nam sinh thời đó.

10/11/2013

Bàn tiệc 5 sao…
    Tặng MT những ngày dưỡng bệnh…
·                Trúc Thông


Từ trên ban công lầu bốn của căn phòng khách sạn nằm giữa khu resort 5 sao, tôi nằm ngữa trong lòng chiếc ghế bành bọc da êm ái, mơ màng ngắm cảnh trời mây và biển cả bao la, ngút tận, chờ đón từng cơn gió biển mát mẻ mằn mặn, để bù thêm tố chất muối iode cho nguời miệt vườn, ở bình nguyên như tôi … Quả là nguời buồn cảnh có vui đâu bao giờ, cho dù là trước thực cảnh “vật đổi sao dời”, sau nhiều năm tái hồi, tao ngộ…
Tôi vặn người ngồi dậy, cầm chắc chiếc máy ảnh Nikon chuyên nghiệp, có lắp ống kính tê lê để canh chụp cảnh bình minh, khi thấy vừng mặt trời hừng đông từ từ nhô lên, phát tán ánh chiêu dương xuyên qua những áng mây ngũ sắc trải dài trên đường biên phân cách mặt biển và bầu trời… Lòng tôi lâng lâng niềm hưng phấn, tức cảnh thiên nhiên thật diệu kỳ… Nhưng càng nhìn sâu nhìn xa về phía biển đông xa khơi, trùng trùng lớp lớp sóng bạc đầu xô đuổi nhau vào bờ không ngưng nghỉ… tôi cảm thấy sao mà buồn chán quá… !
Kiểm lại trí nhớ, có hơn hai chục năm rồi, tôi mới trở lại vùng đất biển hữu tình này, không chỉ vì mãi bận bịu làm ăn, và cũng vì không có cái hứng để đi, dù có rất nhiều dịp để mà đi… Cho nên lý do hôm nay tôi lạc bước đến đây phải nói là rất tùy hứng và tình cờ…  
Chợt có tiếng chuông gọi cửa “kính coong…”rất êm tai... Tôi cầm tấm cạc khóa phòng, bấm nhẹ dấu mở cửa, cánh cửa phòng tự động hé mở từ từ, hiện ra dáng dấp cô lễ tân khả ái ngoài đôi mươi, vận bộ váy veste mềm mại màu xanh bleu marine, khoác ngoài chiếc áo sơ mi màu hồng cánh sen với điểm nhấn là chiếc nơ cà vạt tím hoa cà, là màu phong cách chủ đạo của cả khu resort này… Cô lễ phép cúi chào và từ từ đẩy chiếc xe thức ăn vào… Tôi ra hiệu cho cô đưa đến nơi tôi đang nằm ngó trời ngóng biển… và liếc chừng cô này trạc tuổi con gái lớn của tôi và trông hao hao ai đó rất thân quen mà nhất thời chưa kịp nhớ ra… Cái tật “trông mặt mà bắt hình dong” thường mang lại cho tôi nhiều hiệu quả giao dịch trong thương trường, như là một trong những ngón nghề của các đại gia, dù có khi “sai một ly đi một dậm”… 
Mùi thức ăn sáng trên chiếc khai đẩy bốc lên hình như có đượm mùi hương nước hoa Chanel 5 nhè nhẹ … Tôi hài lòng, cảm ơn và ngỏ ý: “Tiện thể, cho bác đặt một bàn tiệc 3 người trên sân thượng, vào 7 giờ tối nay…!”. Cô nhẹ gật đầu, lễ phép nói: “Sợ ngoài trời chiều mưa, bác ạ… Hay là cháu sẽ bày bàn tiệc trong phòng đặc biệt, cũng trên sân thượng, cũng có view nhìn toàn cảnh resort và biển đêm rất thú vị, thưa bác !... Xin bác cho biết thêm yêu cầu chi tiết ạ… Bác chọn menu nào? Bác cần hoa gì và cần mùi hương nến nào ạ…?”. Tôi gật gù, trả lời ý tứ các câu hỏi nhỏ mà không nhỏ: “À !… Chọn cho bác 3 món đặc sản biển ở đây nấu theo gu Pháp, dùng với vang Bordeaux đỏ… Một bình hoa immortelle và cúc marguerite Đà Lạt… Còn nến  thì chọn mùi hương trầm…”… Cô gái mỉm cười tế nhị, dang nhẹ tay mời tôi dùng bữa sáng rồi cúi chào, lui bước…
Thật ra, tôi lạc bước đến khu resort khách sạn này chỉ là ngẫu hứng, theo bảng quảng cáo bên đường rất ấn tượng, và để thử biết mùi 5 sao là sao?... Trên đường từ Đà Lạt trở về, sau khi sang nhượng xong toàn bộ khu vườn hoa và rau, chỉ giữ lại một ngôi nhà nhỏ, dưới chân đồi ở khu hồ Than Thở, gần cảnh đồi thông hai mộ… thằng Tiền tài xế riêng của tôi bày chuyện đi thử đường đèo mới đến Nha Trang chơi, rồi sẽ theo quốc lộ 1 mà tà tà về quê, luôn thể dừng chân thăm thú các tỉnh miền nam Trung bộ cho vui… Tôi hào hứng ô kê vì cả mấy tháng ròng, tôi trải qua tâm trạng giãi nghệ “hạ cánh an nhàn”, chuyển giao toàn bộ cơ nghiệp cho gia đình thằng con trai út và đứa con gái lớn… sau hơn 30 năm lăn lộn thương trường với đủ ngành nghề, từ đầu vào đến đầu ra, từ sản xuất giống cây lai ghép, cung cấp cá giống nước ngọt, các giống gia súc, gia cầm, chim chóc, hoa cảnh… cho đến kinh doanh vận tải hàng hóa liên tỉnh và đường dài Nam-Bắc, ngoại trừ việc kinh doanh bất động sản và tham gia thị trường chứng khóan…
Với qui mô kinh doanh như vậy, tôi mang tiếng đại gia cũng phải thôi… Nhưng thú thật, cái tiếng đó chẳng qua là nhờ thời cơ và thời cuộc đưa đẩy mà thôi… Tôi chỉ việc quyết đoán và xúc tiến theo chiều thuận kim đồng hồ hơn là theo kim chỉ nam của cái la bàn, miễn là trong khả năng và điều kiện của sản nghiệp cho phép… Vả lại cạnh tranh thương trường là một lẽ, nhưng chân ngôn minh triết của tôi là tránh khéo cảnh bon chen “được ăn cả, ngã về không” hay “được làm vua, thua làm giặc”; thay vào đó là phải thủ thế “ăn chắc, mặc bền” để “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”, và đặc biệt lưu tâm câu “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” nhưng không đến nỗi liều “hy sinh đời bố, củng cố đời con” vân vân… Cho nên nói chung, tôi hay gặp lành, có nhiều bạn thâm giao, chí cốt và cảnh nhà cũng luôn an hạnh, thân tâm sung mãn…
Chiều hôm qua, khi đánh xe vào resort này, trong con mắt nghiệp vụ của cánh nhân viên lễ tân trẻ đẹp, lịch sự, ai lưu bước đến đây cũng đều được trọng thị như nhau, dù Tây hay Ta… Lúc lùi xe vào bãi thật điệu nghệ, thằng tài Tiền tài tự trấn tĩnh: “Dạo này Đại gia không bằng Hai Lúa đâu, đừng lo…”… Tôi bật cười và liếc nhìn phía tiền sãnh, thấy nhiều bóng dáng đi đi lại lại rất sang trọng, lịch lãm, như đã từng thấy họ xuất hiện trên ti vi hay ở một phân khúc thị trường nào đó mà tôi chưa có cửa để cọ xát mà thôi…
Khi đến quầy lễ tân, tôi chỉ ngay sơ đồ thiết kế phòng ốc treo trên tường, yêu cầu chọn phòng hai người ở lầu bốn… Cô nhân viên ngạc nhiên, khẩn khoản: “Có dành phòng riêng cho tài xế, thưa bác…”. Tôi cười trừ: “Nó là em út, ở chung cho tiện…”.
Quả thật, trong sự nghiệp của tôi có phần công sức không nhỏ của thằng Tiền tài xế… gọi tắt là thằng Tiền tài; còn tôi, nó gọi với biệt danh là anh Ba Tiến thủ… Thật ra nó vai em, họ hàng xa bên vợ tôi.  Hồi nó mới sinh khó nuôi và nhà nghèo nên được đặt tên Tiền. Khi đi học luôn là học sinh cá biệt, ham chơi hơn ham học, thi cử rớt lên rớt xuống… Thật không may, gần ngày mãn nghĩa vụ quân tình nguyện ở Campuchia, nó bị thương, lép một mông và mất ngón chân út vì mìn cóc… Vậy mà nó vẫn lếu láo: “Không sao, vẫn còn nhảy được vũ điệu Apsara mà… Chỉ ớn mấy con bồ hay ghẹo bậy với cái biệt danh Kouzedislev thôi…”…
Biết rõ hoàn cảnh của nó, tôi chạy chọt cho nó học lái xe để làm “cán bộ đường lối” cho tôi kể từ năm được phép bung ra sản xuất kinh doanh, cũng là năm tôi triển khai qui mô làm ăn lớn, đi đêm đi hôm tá lả, xuôi ngược đường trường… Cho đến khi có điện thoại cầm tay và máy vi tính có con chuột lúc lắc, nó và tôi mới đỡ cực... Và cũng nhờ điều kiện văn minh hiện đại, khi nào nằm xe chờ đợi dài cổ, nó mở máy lạnh vù vù, tự bồi dưỡng sự hiểu biết, am tường thời sự, thời cuộc qua đủ thứ sách báo, vừa nghe tin tức, vừa xem ti vi… Có nhiều vụ làm ăn biết tôi khó xử, nó hay “phụ nhĩ” như là “cán bộ đường lối” thứ thiệt…
Mà cảnh đời thằng Tiền tài này cũng là một kho tàng tếu lâm, tức cảnh bỡn cợt từ đời thường, đời thuở học trò… cho đến cảnh thực chiến truờng và thương trường… Riêng chuyện tình trường, nó hay cậy tôi truyền tuyệt chiêu, nhưng tu luyện không thành, nên đến bây giờ nó vẫn chịu trận cảnh cu ky, chèo queo một mình… Hễ khi nào vắng nó tôi thấy buồn lắm, đến nỗi vợ con và giới làm ăn đối tác phải dè chừng, cáo giác tôi, bởi cá tính nó thẳng thừng, phát ngôn không sợ lỡ lời: “Thằng cha đại gia đó dỏm…”; “Con mẹ đối tác đó chảnh, hách dịch…” vân vân… Đến mức tôi phải nạt nó mới im mà ấm ức, nhấn ga, bóp còi bừa bãi… Tôi kệ nó, có nó cũng vui đời… Bởi thời buổi này biết ai bầu bạn lâu bền… Và dù gì, tôi với nó cũng là chỗ bà con xa, láng giềng gần…
Qua một đêm ngủ vùi vì mệt mỏi, sau khi nghe ngóng bữa ăn sáng đã mang đến, và thấy tôi ngồi thui thủi canh chụp cảnh bình minh, thằng Tiền tài nằm nướng trên chiếc giường êm ái thơm phức, nói trổng không sau bức bình phong sơn mài thủy mạc, tả thực lưỡi sóng thần Nhật bản: “Ta đi tắm biển cho sạch ghẻ lác, rồi đi tìm cái địa chỉ cũ đó, gặp được thì mời đi nhà hàng luôn thể…”. Tôi lừng khừng trả lời: “Để tao gọi điện đã…”… Nhưng tổng đài điện thoại báo ngay số máy này không có thực… Tôi thất vọng, nghe lời thằng Tiền tài thay đồ đi tắm biển…
Nắng dần lên cao, hôm nay trời đẹp, biển xanh trong, cát trắng mềm mại dưới bước chân… Cùng nằm phơi nắng, hứng gió, tôi dài dòng tâm sự với thằng Tiền tài: “Lâu lắm tao mới trở lại đây, vật đổi sao dời có khác, chẳng biết đây là chốn nào của ngày xưa… Lần đầu tao ra đây là thời bao cấp, biển bờ còn hoang sơ, chưa bị bê tông hóa như bây giờ… Đó là dịp thằng Hải vì gia thế sa sút, phải ly hương ra đây lấy vợ, rủ tao với mấy đứa bạn ra ăn cưới, sẵn đi chơi cho biết cảnh Nha Trang…  Chiều hôm đó, nó bày đặt đưa cả bọn ra ngồi chơi ở bãi đá hòn Chồng… Tao cao ứng hát bài Nha Trang ngày về của Phạm Duy… Đứa nào cũng buồn thiu… Rồi cả đám thi nhau biến tấu thành bài hợp ca đủ thứ giọng, trật nhịp, sai điệu mà nghe đã lắm!… Rồi mày biết sao không ? Đêm đó cả nhà bị kiểm tra hộ khẩu, vì số bà con bạn bè đi đám cưới ở nhà vợ nó khá đông… Nhưng thằng Hải nói nhỏ cho biết, bị nghi là tổ chức vượt biên… Trưa hôm sau, đám tiệc chưa tàn, cả đám bọn tao 5 thằng đón xe chuồn về liền… Sau này, cả nhà vợ nó lần lượt đi định cư ở nước ngoài, nhờ có người anh đầu đi du học rồi làm bác sỹ ở Mỹ bảo lãnh, riêng vợ chồng nó chịu ở lại để giữ cơ ngơi bề thế của ông bà để lại… Có lần nó dắt vợ về thăm quê, ghé tao chơi và bỏ lại tấm cạc cũ này đây… Nó dặn hễ có dịp ra chơi là cứ gọi cho nó… Từ đó đến nay, tao không rãnh mà cũng chẳng nhớ để liên lạc… Hôm qua mày xui ra đây, tao ô kê liền, vì tiện thể thăm gia đình thằng bạn già nay ra sao… Tiếc là tổng đài báo số điện thoại nhà nó không còn tồn tại thì thôi… Tao với mày lang thang cho đã rồi mai về…” 
Sau cả ngày đánh xe vòng quanh Nha Trang theo bản đồ du lịch, chỗ nào tiện đậu xe thì ghé chụp cảnh chơi, vậy mà còn nhiều chỗ phải bỏ qua vì thời gian eo hẹp quá, đành quay về resort, thằng Tiền tài cà khịa: “Hồi nãy qua đèo Rù Rì, hồi xưa là trại lính Mỹ, cấm dừng xe chụp hình… Anh Ba rữa cho em tấm nào đẹp để tặng mấy con bồ ngu ngơ của em…” Tôi hỏi vặn để làm chi, nó trả lời tỉnh queo: “Để Rù Rì với nó cho dễ…!”. Tôi phì cười vì tuyệt chiêu của nó bây giờ xem ra có hơn tôi xa lắc…
Chiều dần nhạt nắng, tôi và thằng Tiền tài lại tà tà xuống bãi biển… Nó bỏ chiếc áo khoác, cột lại dây chiếc quần tắm, rồi lao nhanh xuống biển để giấu cái mông lép… và phóng mình trong những lớp sóng nhấp nhô để tìm cảm giác được mát sa cho đã… Tôi vốn không thích tắm biển, chỉ thích tắm sông, nên ngồi cù rũ ở chiếc ghế xếp dưới tán dù rơm, canh chờ chụp cảnh hoàng hôn trên biển cả… Sóng gió từ xa khơi dội về càng lúc càng dồn dập hơn, theo cơn thủy triều lên… Tôi mở máy ảnh, điều chỉnh các thông số kỹ thuật, để chụp toàn cảnh panorama hoàng hôn ở cảnh biển này… Đó cũng là thú chơi tao nhã mỗi khi tôi đi đâu, đến đâu xa xứ cũng hay săn những bức cảnh đẹp của thiên nhiên tạo vật và cảnh sống thực tại và thực dụng của con người ở đó để làm kỷ niệm, với hàm ý so sánh thực cảnh “vật đổi sao dời” là như thế nào…
Chợt thấy thằng Tiền phóng mình bơi sải, bám đuôi cặp vợ chồng Tây trẻ khỏe như vâm… Tôi chộp lấy chiếc ống dòm bất ly thân của nó để nhìn cho rõ nó giở trò gì kia… Cha chả! Thằng quỉ sứ cố bám theo cặp vợ chồng Tây đang bơi truồng! Đã chưa, cái thằng quỷ sứ! Tôi zoom sát cận một cảnh tượng sex cực kỳ ấn tượng… khiến tôi cũng cao hứng không kém cạnh thằng Tiền tài… Tôi vội chộp máy ảnh, chỉnh kính tê lê, chụp lia lịa, mỗi khi cặp vợ chồng tây xoãi tay xoạc chân, trồi lên lưỡi sóng… Tôi hể hả, nào giờ nghe kể, nghe tả như chuyện khoác lác… bữa nay có hình có cảnh chứng thực đàng hoàng về phong cách sống tự do, tự tại của dân Tây rồi đây… Tôi mỉm cười tự nhủ, chắc tại vì dân mình mặc cảm tự ti nhỏ xíu… nên không dám khoe ba cái mớ sexy show chán phèo…
Chợt có tiếng chuông báo tin nhắn, tôi mở xem thấy mẩu tin lạ, số lạ, lời lẽ cũng lạ, khó hiểu tại sao: “Hẹn gặp chiều nay ở bàn tiệc 5 sao…”. Hồi sáng tôi làm sang đặt bàn tiệc 3 người là để đãi vợ chồng Hải và tiện thể, nếu không gặp được, thì cũng dành cho tôi và thằng Tiền tận hưởng bàn tiệc 5 sao, sau một chuyến đi vui, mọi chuyện tính toán đâu vào đấy, và không biết bao giờ mới trở lại đây… Tôi ngờ ngợ, hay là cô lễ tân kia bắn tin cho ai chăng ? Trường hợp này tôi bị vài lần, khi đặt tiệc riêng ở nhà hàng quen thuộc, lại có thêm khách không mời mà đến, chỉ vì có đối tác săn đón tôi nên mua tin cánh lễ tân… Nhưng đây là lần đầu tiên tôi chơi bạo vào ở resort 5 sao, và lần đầu biết cảnh Tây tắm truồng kia mà… Vậy thì ai đây ?
Gần 7 giờ, tôi bảo thằng Tiền tài tự đánh xe đi dạo chơi đâu đó rồi về sớm ngủ sớm để mai về… Tôi đi thang máy lên tầng thượng, ngồi vào bàn tiệc dọn sẵn thật đúng ý, tinh tươm, sang trọng… Nhìn bình hoa immortelle và marguerite cắm thật tinh tế, điệu nghệ… và ngữi mùi nến hương trầm thoang thoảng, mà lòng tôi cứ bồn chồn, liên tưởng đến một kịch bản hình sự sắp diễn ra như cinéma…
Đôi cánh cửa kính tự động mở ra, vẫn cô gái hầu phòng lúc sáng, nhưng lại diện bộ váy màu thiên thanh, thêu hoa hoa văn Champa thật thanh nhã, nhẹ bước đến chỗ tôi đang ngồi nhìn ngơ ngác, không chớp mắt, như tự nhủ vậy là sao? Cô gái mỉm cười, lễ phép đứng trước mặt tôi nói nhẹ nhàng: “Con là Thùy Dương, con gái của ba Hải và mẹ Hà… Tin nhắn hồi chiều là của con… Con xem kỹ bộ phiếu đăng ký phòng, biết bác Tiến ra đây nên mạn phép thay mặt ba mẹ đón tiếp bác…”. Tôi càng ngỡ ngàng, chưng hửng, hỏi lại: “Ba má con đâu rồi…?”.
Thùy Dương xin phép tôi ngồi đối diện và bắt đầu giải tỏa nỗi kinh ngạc của tôi: “Ba mẹ con ly dị lâu rồi… Bây giờ ba ở Huế với người vợ sau… Mẹ con đành bán ngôi nhà ngoại lúc trước để bù vốn đầu tư vào khu resort này, nên số điện thoại theo địa chỉ cũ không còn tồn tại…  Mẹ con bây giờ là chủ khu resort này, hiện đang sang Mỹ rước ông bà ngoại già yếu về đây để hưởng cảnh mãn phần… Sở dĩ con nhận biết được bác là vì mẹ có lập riêng một danh sách những người bạn thân thuộc xa gần của gia đình, để có dịp phục vụ chu đáo khi đến đây nghỉ… Hôm nay con phải trực lễ tân và kiêm cả việc hầu phòng vì dạo này nhân viên thạo nghiệp vụ rất thiếu… Con nhận ra Bác ngay vì nốt ruồi đại cát trên cằm của Bác, vì mẹ hay chỉ vào tấm ảnh cưới ngày nào và căn dặn hãy nhớ lưu trữ trong máy tính mà trông chừng đón tiếp cẩn trọng… Mẹ cũng hay nhắc chuyến đi về thăm cơ ngơi của Bác và luôn ca ngợi như một mô hình mẫu kinh doanh độc đáo, từ đầu vào đến đầu ra…”. Tôi vỡ vạc mọi thắc mắc và lấy lại trầm tĩnh vốn có, vì trước mặt tôi là một đứa cháu gái rất ngoan và xinh đẹp…
Thức ăn được dọn ra, tôi bảo: “Bác đặt bàn tiệc này với hy vọng gặp được ba và mẹ con… Rất tiếc… Thôi thì con gọi thức uống khác, bác cũng không dùng rượu được  để mai về đường xa cho khỏe… Mà này, sao ba con lại chọn cảnh sống lạ vậy? Bác không ngờ…”.
Thùy Dương giải thích như thay lời muốn nói của mẹ nó: “Việc ở rể của ba con vậy mà không ổn… Lúc nào ông cũng muốn thoát cảnh ràng buộc vào gia thế của mẹ con… Ban đầu, ông còn ẩn nhẫn chịu đựng… Cho đến khi cả nhà con đi định cư ở nước ngoài, ông bà ngoại giao cho ba mẹ ở lại để giữ cơ ngơi này, hồi đó chỉ là một quán lớn bên đường thôi… Nhưng rồi ba con vẫn giữ tâm lý mặc cảm, tự ái… giao cho mẹ tự xoay sở để ra riêng, mở xưởng đóng ghe thuyền đánh cá, bán nông ngư cụ, rất khấm khá… Con nghĩ cũng lạ, ba và mẹ con chỉ mới quen biết nhau trong một chuyến theo người thân ra đây chơi, là chỗ thâm giao với gia đình ngoại… Hai người gặp nhau như coup de foudre, đính ước nhanh chóng, nhưng rồi lại chia tay dần dà về sau… Bác có dự đám cưới chắc đoán biết ít nhiều tâm sự của ba cháu lúc đó… Nhưng từ cảnh ly thân, rồi ly dị và chấp nối của ba với người vợ sau là cả một dặm đường dài nhiều nước mắt chua xót và cay đắng của mẹ con… Để khuất tất tình cảnh duyên phận cô đơn, và được sự tiếp trợ của gia đình từ nước ngoài, mẹ con từng bước gầy dựng nên cơ nghiệp này cho đến nay…”.
Tôi hình dung ra mọi lẽ thăng trầm và biến thái của cuộc tình Hải và Hà... Âu cũng là vận số chăng hay là sự mất thăng bằng giữa chốn tình trường và thương trường? Cảnh ngộ này tôi có biết nhiều trường hợp tương tự, hay được đồn thổi trong tiệc tùng mà tôi đánh giá hời hợt chỉ là tiểu thuyết hay kịch bản phim Hàn… Nhưng lần này là câu chuyện thật, có thật của cảnh nhà bạn tôi… Tôi nhìn Thùy Dương thật kỹ, quả là nó rất giống mẹ, theo những ấn tượng mà tôi còn nhớ hoài với đường nét thùy mỵ của khuôn mặt, ánh nhìn thông minh của đôi mắt và nụ cuời rất duyên có chiếc răng khễnh rất khả ái…
Trong khi dùng món, Thùy Dương trò chuyện rất có duyên, tinh tế và nhạy cảm khi hỏi tôi vì sao lại đặt bàn tiệc 5 sao như vậy… Tôi cười vui để giải tỏa: “Bác giao du đủ hạng đại gia, nhưng chưa bao giờ dám đặt tiệc ở khách sạn 5 sao… Đây là lần đầu tiên bác đến, nên bắt chước kiểu cách này nọ mà cánh đại gia hay khoe mẽ vậy thôi… Nhưng mà trong ẩn dụ chọn hoa immortelle là vì bác gái cháu thích vậy, còn cúc marguerite là để kỷ niệm cho một cơ ngơi của bác ở Đà lạt vừa bán xong và ngẫu hứng lạc bước đến đây tình cờ, ngoài dự tính…”.
Thùy Dương dè dặt hỏi thêm: “Còn mùi hương nến trầm là sao, thưa bác…?”. Tôi nhìn vào đôi mắt đẹp sáng long lanh, thật tinh anh của Thùy Dương và nói như nhắn nhủ: “Đó là mùi hương xưa 5 trong 1… Nó có thể áo nhuộm cả kỷ niệm, tình bạn, tình yêu, tình duyên, tình đời… Như gợi lên một lời thì thầm, nhắn nhủ cho mỗi người và mọi nguời hãy hằng tĩnh tâm bình chọn sự chuẩn mực, trước những ngả rẽ của cuộc đời, vốn đầy thử thách và trở lực khôn lường…”…
Nhẹ nhàng chấp đôi bàn tay trước ngực, có ngón thon dài và lấp lánh chiếc nhẫn đính ước, Thùy Dương thốt ra lời thán phục: “Bác vừa cho con biết một lời trải nghiệm từ cuộc sống thật tinh tường… Rất tiếc không có ba mẹ con ở đây… Nhưng con sẽ kể lại tất cả cuộc chuyện trò cùng bác bên bàn tiệc 5 sao này…”.
Dừng lại bữa ăn ngon và cuộc chuyện trò đầy ý nhị… Thùy Dương đề nghị đưa tôi đi dạo khắp khu resort dưới ánh trăng non vừa nhô lên, soi sáng những ngọn phi lao cao vút, vây quanh khu resort hiện đại, tân kỳ, mang phong cách miền nam California thường thấy trên ti vi, sách báo ảnh du lịch, thời trang… Tôi chợt nẫy ý so sánh, nguời vợ xứ Huế của Hải liệu có xinh đẹp, thùy mỵ và thanh lịch như hai mẹ con Hà và Thùy Dương không… ?
Trong suy nghĩ đơn thuần của tôi và những nguời ngoại cuộc thì mọi cuộc tình duyên trắc trở hay đổ vỡ đều khó hàn gắn hay cứu vãn… Chính thằng Tiền tài kia có lần dám nói chắc rằng, trong chiến trường và thương trường thì “thua keo này, bày keo khác”; nhưng trong tình trường mà như vậy là cũng có thể được nhưng mà buồn lắm…!
Trên những chặng đường trở về nhà, tôi tư lự mãi về bàn tiệc 5 sao… Và cuối cùng, tôi liệu tính lên ngay một kế hoạch, phải cùng thằng Tiền tài đi một chuyến ra Huế xem sao…   



Một ngày mưa bão tơi bời*… 6.11.2013


* Ca từ của Lê Uyên Phương, bài “Dạ khúc cho tình nhân”. 

05/11/2013

Một cảnh hưu
     Võ Văn Ngọc Hoàn



Chiếu theo luật hiện hành, sau khi chị hai của tôi qua đời trong cảnh gối chiếc, neo đơn, tôi sẽ được thừa kế 3 công vườn nhà đất hương hỏa của ông bà cha mẹ để lại, vì tôi là em trai kế duy nhất của chị, là hàng thừa kế thứ nhứt, tính từ đời tôi trở về sau… !
Chị tôi có để lại di chúc cho tôi từ những ngày sức lực của chị tàn tạ, khi không còn cưỡng chống nổi căn bệnh ung thư vú hiểm nghèo, đã di căn sang nhiều bộ phận khác… Chị tôi còn nói lời trăng trối: “Biết rằng em sẽ phải sống cảnh hai quê với mảnh vườn đất hương hỏa này và căn nhà ở thành phố của vợ chồng em... Nhưng biết làm sao được… Em phải về đây mà giữ gìn nó như chị đã gìn giữ nó bằng cả cuộc đời của chị… Đừng làm chị thất vọng về em… Mà em cũng sắp sửa về hưu rồi, ở mãi thành phố đô hội ồn ào náo nhiệt mà chi… Đừng cãi chị…”.
Tất nhiên tôi phải nghe lời chị, dù vợ con sẽ không ưng lắm cái cảnh hưu đúng nghĩa “về vườn” của tôi… Cái lý của tôi để làm yên lòng vợ con là: “Thử nghĩ mà xem, trong hoàn cảnh sống hiện nay, mấy ai thụ đắc được phần thừa kế lý tưởng như gia đình mình… Bán đi thì dễ nhưng dễ gì tậu lại… Mà cảnh nhà mình bây giờ đâu đến nỗi nào khốn khó cho cam, bán làm chi?...  Sao không nghĩ đó sẽ là nơi thừa tự, thờ phụng ông bà tổ tiên, là chốn nghỉ ngơi thanh nhàn, đắp đổi được cảnh sống thị thành vốn dĩ chỉ làm con người mất gốc chân quê…”. Bất ngờ, con dâu tôi lên tiếng: “Con chỉ sợ vùng quê hẻo lánh, thiếu điều kiện chạy chữa bệnh kịp thời… Mà ba đã có tuổi và cũng chớm bệnh già rồi…”. Cuộc hội ý lại quay lại những nghi ngại ban đầu, trước quyết định về vườn của tôi… Tôi chống chế: “Liệu có bệnh thì về đây chữa bệnh, lo gì cho xa…”. Thằng con trai tôi nói dè chừng: “Biết vậy, nhưng bọn con đi làm cả ngày, má ở nhà một mình không ổn…”. Vợ tôi phì cười, giải vây: “Bây lo không ổn vì sợ bà già ô sin buồn hả? Đừng lo, cái nghiệp ô sin của má mày mắc phải từ tấm bé, làm gì có chuyện hưu hay buồn… Mà đằng nào ba mày cũng phải về lo sửa sang lại nhà cửa, vườn tược, mồ mả ông bà… Chừng nào không ổn thì tính tiếp…”. Tôi cười hài lòng, cũng bởi thật ra nếu tôi về với cảnh vườn quê xưa lần này nữa là lần thứ hai…
Lần đầu vào năm 20 tuổi, là năm hòa bình rồi, ba má tôi quyết định hồi hương, sau hàng chục năm sống đời tản cư tạm bợ, làm ăn qua ngày ở tỉnh lỵ, chỉ cốt cho chị em tôi được ăn học, nhưng kết quả lại đầy thất vọng: Tôi thi rớt tú tài IBM, còn chị tôi lại đậu được một tấm tình với người bạn cũ đồng lứa, đồng liêu từ thuở học trường làng… mà từ lâu cả hai nhà đã cùng ngụ ý âu cũng “là duyên là nợ” thường tình…
Trong những ngày đầu hồi hương, chưa chi quan hệ hai nhà đã rất thắm tình thông gia, từ việc đỡ đần tu sửa nhà cửa, dọn dẹp vườn tược như đám rừng hoang, cây cao cụt ngọn, cây dại lan tràn, lổ chỗ hố bom, ổ pháo bầy hầy… Dạo đó, chị tôi xem như đã thử làm dâu nhà bên bển, chỉ cách vườn nhà tôi một dòng sông… Má tôi kể thật: “Nhà bển còn có mấy người thân đi bộ đội lâu rồi, nay mai cũng hồi hương về đây…”. Tôi thật thà cảm nhận: “Vậy là càng may phước cho chị hai…”…
Cho đến một hôm, chị tôi sang giúp bếp núc cho nhà bển đang bắt tay khai phá mấy hố bom làm ao nuôi cá, trữ nước tưới vườn mùa hạn, tạo thêm nguồn nước xài và ý tứ hơn nữa là chuẩn bị làm lễ cưới rình rang cho anh chị tôi để xua tan lời dị nghị đồn lành đồn xa… Nhưng thật họa kiếp!... Một quả bom sót đã nổ, làm nát tan thân xác cả 3 chủ nhân ông của cả một cơ nghiệp sung túc đang tượng hình… !
Chị tôi lâm cảnh gối chiếc, neo đơn từ đó… Rồi vài năm sau, ba mẹ tôi cũng lần lượt qua đời vì bệnh tật, túng thiếu và bất lực trước thách thức của cảnh vườn tược luôn đòi hỏi phải vun xới, bồi đắp bằng sức người và vốn liếng, chứ không thể bằng tiếng thở dài ngao ngán… Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, tôi dàn xếp với chị tôi “hãy cố nguôi ngoai mà sống… lâu rồi đời mình cũng qua…”,* như câu hát thịnh hành một thời…
Từ dạo đó, tôi thu xếp hành trang trở ra tỉnh lỵ, theo đám bạn bày vẽ mua bán mánh mung, may ra kiếm tiền nhanh chóng hơn là làm vườn… Rồi cơ may đưa đẩy cứ đến, tôi được nhận làm chân bỏ hàng sỉ lẻ từ quê lên tỉnh ở chợ đầu mối Bình Tây – Chợ Lớn… Và cơ duyên cũng đến, tôi lấy được vợ đồng cảnh ngộ, cũng có thân phận mồ côi, giúp việc cho nhà chủ ở Chợ Lớn từ tấm bé… Vào khoảng năm 80, vợ tôi sinh được con trai đầu lòng cho nên bả rất nhiệt thành hưởng ứng kế hoạch hóa gia đình, chấp nhận triệt sản…  Cùng lúc đó, tôi được nhận vào làm hợp tác xã vận tải hàng hóa nông sản rau củ quả miền Tây, hàng năm đều đạt thành tích lao động tiên tiến, được thăng lương theo định kỳ và leo đến chức vụ cao nhất đã kinh qua là chủ tịch công đoàn một đơn vị cơ sở… Tuy nhiên, cơ may cho tôi thăng tiến chức vụ cao hơn nữa đã được nhiều cuộc họp liên tịch gác lại, vì phần xác minh lý lịch của tôi có đôi chỗ mờ nhạt, không rõ ràng, nhứt là thời tản cư và sau đó đi làm ăn với dân buôn bán mánh mung ở Chợ Lớn… Nhưng không sao, ở hiền gặp lành, hồ sơ hưu tôi cầm trên tay đây cho thấy được thụ đắc đầy đủ mọi khoản, đúng chế độ chính sách nhà nước ban hành…  
Sáng sớm hôm nay, ngồi một mình uống cà phê, hút thuốc 555, nơi chiếc bàn tròn gỗ mun gia bảo, có bộ chân quỳ chạm trổ bộ tứ linh bị sứt mẻ nham nhở, mang vết tích chiến tranh, được kê trước bàn thờ gia tiên mà tôi vừa thắp một nén hương đầu ngày… Tôi lan man ngẫm nghĩ, lần về vườn này là lần thứ hai, với tư thế người thừa kế hàng thứ nhứt, vậy phải ráng mà tái lập cơ ngơi này thật đàng hoàng, bề thế hơn xưa, ít ra là xóa đi vết tích cảnh đời cô quả của chị tôi một thời, trong con mắt của chòm xóm chung quanh…
Tôi suy tính nhanh: Một là, sẽ xây lại ngôi nhà này theo mốt villa, hướng ra cảnh sông đậm màu phù sa, thấy từng về lục bình hoa tim tím trôi êm đềm… để làm cơ ngơi cho đám “con một cháu bầy” về chơi, nghỉ dưỡng là chính… Hai là, sẽ cải tạo cảnh quan môi trường thoáng đãng hơn xưa, như một vuờn cảnh thanh lịch tân thời, có bờ dậu rào dâm bụt biệt lập, có cổng gỗ xoan đào bện dây hoa xác pháo, có lối đi riêng uốn quanh những bồn hoa bốn mùa, xuân mai, hạ hồng, thu cúc, đông lan… nổi bật trên thảm cỏ nhung mượt mà… Ba là, tạo điểm nhấn trước tiền sảnh, là một hòn non bộ có vòi nước phun, được xếp đặt bằng những tảng đá ong lâu đời mà chị tôi bỏ lăn lóc, vất vưởng bên hè kia... Nhưng muốn tính gì thì tính, trước hết cũng phải làm đủ thủ tục hợp thức hóa chủ quyền thừa kế sổ đỏ cái đã… Bất giác tôi thở dài, nhấp một ngụm cà phê, hít một hơi dài điếu thuốc 555, rồi phà ra một luồng khói mịt mờ...
Ngoài ngõ chợt có người khách không mời mà đến, lon ton bước vào nhà và chào tôi như quen thuộc lắm: “Anh là anh ba Ngọc Hoàn mới về hả?… Em là hai Lanh, là cháu bên vợ ông ba Bận ở bên kia sông đây mà… Em đến thăm anh ba là vầy, như em đây hồi trước vẫn hay sang giúp chị hai Ngọc Nữ, mỗi khi chị có việc cần nhờ…”. Xưa nay, tôi vốn mù mờ và hay dị cảm quan hệ họ hàng chòm xóm, bởi tính khí bôn ba, ưa giao du “tứ hải giai huynh đệ”, quen cảnh đời buôn bán của dân tình xóm chợ hơn là xóm quê… Nên khi nghe nói vậy, tôi đoán hiểu ngay, bèn ra vẻ nhận biết qua qua: “À nhớ rồi… Là chỗ thông gia hụt ngày trước phải không?”…
Rồi tôi rót trà mời và hỏi thẳng có việc gì cần bàn không… Hai Lanh ngập ngừng nói dè chừng: “Biết anh về thừa kế mảnh vuờn nhà này nên em tính qua để hỏi anh có cần gì thì sẵn sàng giúp một tay, như giúp cho chị hai Ngọc Nữ hồi truớc vậy thôi… Mà này, anh ba nên làm trước mọi thủ tục giấy tờ thừa kế sổ đỏ cái đã… Vùng này đang qui hoạch qui mô lắm, hành lang bờ sông bị thụt vô cả 100 mét lận… Nhưng dù sao, anh cũng còn giữ được mặt tiền sông, nhứt cận thị, nhì cận giang mà…”. Tôi ỡm ờ: “Phải rồi… Nếu vậy thì mặt tiền sông mảnh vuờn nhà này bề ngang vẫn còn nguyên 100 mét có lẻ, bề sâu nở hậu chỉ còn lại cỡ 200 mét có lẻ… Vậy cũng được, phần mồ mả hương hỏa vẫn còn nguyên mà…”.
Thấy tôi trầm ngâm nghĩ ngợi, không nói gì nữa… Hai Lanh nấn ná gợi chuyện: “Hồi cả nhà anh tản cư, nửa đêm về sáng, du kích hay qua bến sông này, nghỉ chân ở nhà anh, rồi họp hành bàn bạc gì đó trước khi tản đi… Cũng có lần lính tỉnh càn vào tận đây nhưng không dám cắm chốt… Còn bom lạc pháo bầy dập vào vùng này như cơm bữa… Bởi vậy, cả nhà dì dượng ba Bận với anh hai Quốc Toản chết thảm vì bom sót là vậy… Tội nghiệp quá !...”.
Nghe hai Lanh kể lể, làm sống dậy lại cả một thời khốn khó của cảnh nhà… Thật ra ba má tôi tuy tản cư ra tỉnh nhưng vẫn lén lút về thăm nhà và có kể ít nhiều những điều như hai Lanh vừa kể… Thậm chí, mỗi lần cải trang về thăm nhà, ba má tôi còn lén mua thuốc tây, thuốc lá, đường, sữa, bột ngọt… mang về chôn giấu sau hè, để cho anh em du kích liệu bề đến lấy… Hành động và nghĩa cử đó về sau được xem là có công với cách mạng… Nhưng muốn chứng thực điều đó thật không dễ, vì những câu hỏi ngặt khó giãi bày được đặt ra ở lý lịch là hồi nào? ai biết? đang làm gì? ở đâu? …Vì vậy, nhiều khi những điều “thi ân bất cầu báo” đó cũng dần bị quên lãng, trừ phi có ai đó nhắc nhớ như hai Lanh đây…   
Tôi lơ lảng rồi giật mình, mời hai Lanh uống nước nói chuyện chơi, nhưng nó lật đật đứng dậy chào tôi ra về… Tôi quen thói chìa tay ra bắt kiểu thị dân, nó lúng túng úp hai bàn tay chai sần che bụng, đi giật lùi, nên tôi phải nhún bước tiễn nó về như hai người anh em bà con, đã lâu năm lắm rồi mới gặp nhau…
 Mấy tháng trời sau đó, tôi lòng vòng ra xã, lên huyện rồi lên tỉnh như đưa thoi để làm cho xong hồ sơ thừa kế sổ đỏ, nhưng không đâu vào đâu, đợi xin chữ ký một nơi, rồi chờ đóng dấu một nẻo, hỏi điều này lại lòi ra điều khác, đơn từ viết đi viết lại theo ý kiến chỗ này lại không đúng ý chỗ kia… Tất cả chỉ vì cái lỗi là sau khi tôi đi làm ăn tha phương, chị hai tôi không rành việc hành chánh, không khai tên tôi trong tờ khai hộ khẩu mà lại có trong hồ sơ làm chứng minh nhân dân của chị… Mệt mỏi quá xá! Xem ra không thể mở màn cảnh hưu nhàn về vườn ngay từ những tháng ngày đầu tiên nữa rồi… Con dâu tôi nó nói hú họa vậy mà có lý, ngộ lỡ đổ bịnh vì vấn nạn giấy tờ kiểu này chắc chết chắc, vô phương chạy chữa…    
Đến ngày sắp cạn tiền túi, tôi đành quay về nhà ở Chợ Lớn… Đêm về khó ngủ, tôi ra lan can ngóng cảnh trời khuya, hướng mặt về phương Nam, lặng lẽ nhớ quê nhà… Sáng tinh mơ, tôi tỉnh giấc theo tiếng xe, tiếng còi, lẫn mùi khói bụi càng lúc càng ồn ào náo nhiệt theo nhịp sống đã sang một ngày mới cật lực bon chen… Được năm ba bữa, nửa tháng tôi lại bức bối, nôn nao muốn về thăm cảnh vườn quê… Tức cảnh hưu về vườn trong hoàn cảnh của tôi xem chừng có đẹp không là trong tâm tưởng và hình dung…
Và lần về quê cuối cùng, tôi hoàn tất mọi thủ tục bốc cốt dòng họ Võ Văn đưa về chùa ở Hốc Môn, để thỏa mãn điều kiện cơ bản của bên mua mảnh vườn nhà này là người em út của ông ba Bận, là chỗ thông gia hụt với nhà tôi, nhà ở bên kia sông, lúc trước đi bộ đội tập kết, bây giờ là một chuyên gia kinh tế đối tác - đầu tư, có cạc-vi-dít, có vai có vế, và thằng hai Lanh là tài xế riêng của ổng…


Bên bờ sông quê… 1.11.2013


* Ca từ của “ Bài không tên số 5”, của nhạc sĩ Vũ Thành An.               

04/11/2013

Cây bạch mai tiễn một người đi

Huỳnh Thanh Quang

Cây bạch mai trước sân nhà cô Phạm Thị Hạnh


Anh Phạm Duy Bình rót trà mời các cựu học sinh


            Cô Phạm Thị Hạnh là người chị thứ hai trong gia đình ngụ tại phường 1, thành phố Bến Tre. Lúc thiếu thời, cô là nữ sinh Trường Trung học Gia Long (Sài Gòn). Sau đó, cô về dạy môn Văn ở Trường Trung học công lập Kiến Hòa.
            Nơi sân nhà cô có cây bạch mai nay đã 30 tuổi. Anh Phạm Duy Bình, 67 tuổi, là cựu học sinh xuyên suốt bậc trung học tại Trường Trung học Kiến Hòa và là người em thứ ba của cô Hạnh, kể: “ Năm 1983, ba tôi xin cây bạch mai này từ đình Phú Tự. Lúc mới đem về trồng trước sân nhà, cây bạch mai chỉ cao khoảng 10 cm với ba lá nhỏ. Theo năm tháng, cây lớn lên rồi trổ bông mai trắng thành từng chùm bên thân cây và cành cây. Dịp tết Nguyên tiêu hàng năm là thời điểm bạch mai trổ bông thơm ngát, đàn ong kéo nhau đến đây hút mật. Chị Hai (cô Hạnh) là người nhiều năm ngắm nhìn đàn ong bay về cây bạch mai vào mỗi buổi sáng. Song, nay chị Hai không còn nữa!...- Giọng anh Ba Bình buồn buồn -  Những khi gặp vui buồn trong cuộc sống, tôi rất nhớ mái trường xưa, nơi đã cho tôi nhiều kỷ niệm êm đềm. Hôm nay, các bạn là cựu học sinh của trường, đến viếng chị Hai, gia đình tôi rất cảm động. Anh Lương Văn Tô My, cựu học sinh niên khóa 1966-1973, từ TP HCM, đi đi về về, ngay cả nửa đêm, có mặt gần như suốt trong đám tang...”
            Cô Phạm Thị Hạnh, 72 tuổi, pháp danh: Diệu Nguyện, mất lúc 8 giờ 25 ngày 2/11/2013, động quan lúc 13 giờ 30 ngày 6/11/2013 và sẽ đưa đi hỏa táng tại Tiền Giang.

            Cây bạch mai đã tiễn đưa một người về cõi vĩnh hằng với biết bao thương nhớ của thầy trò trong đó có anh Lương Văn Tô My, hiện là Trưởng ban Liên lạc cựu giáo viên và học sinh Trường Trung học công lập Kiến Hòa. Cô Phạm Thị Hạnh là người nuôi dưỡng anh Tô My ăn học lúc anh phải cảnh mồ côi cha mẹ sau năm 1965…

Tang lễ cô Phạm Thị Hạnh.

01/11/2013

Cổ tích nhà trường

Là câu chuyện phiếm của tôi…
Một thời cổ tích – Một thời nhớ thương

Không tên

Minh họa: STh.


Vợ vắng nhà, đi thăm gia đình đứa con gái lớn chưa về, tôi ngồi ăn cơm một mình ở bộ salon bọc vải nhựa ca rô sọc đỏ sọc đen, vừa ăn vừa lơ lãng xem ti vi phát lại chương trình ca nhạc cũ mèm, mờ nhạt, đầy hạt đom đóm… Chợt thấy, màn hình chuyển cảnh, trỗi lên dạo khúc intro, với điệu luân vũ Valse andantino, để dẫn vào bài hát “Trường làng tôi” vốn nằm lòng trong lứa tuổi lão làng hiện nay…
Nhìn cô ca sĩ có tên không có tuổi, đếm thẳng bước ẻo lả bên cận cảnh là con đường bờ ao súng, lúng phúng cỏ cú; trung cảnh là khóm tre oằn ngọn đu đưa; hậu cảnh là mái nhà lá xiêu vẹo, có cái lu nuớc, có chiếc gào gáo dừa gác ngang miệng lu… Tôi lầu bầu, cô ta hát bài này của cố nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu mà lại mặc cái áo dài khoét cổ khoe vai hở ngực, bó sát cánh tay và thân hình múp míp vậy ? Chà ! trên ngực áo màu cổ đồng lại có thêu hai bông hoa tổ chảng, cách điệu, không biết là hoa gì nhưng có màu nhủ lấp lánh… làm căng phồng mọi đường nét tròn trịa, được kết hợp chắc tay bởi tạo hóa và nhà tạo mốt, hay thiệt! … Coi kìa, cổ trang điểm quá đậm nét, đậm màu và chắc cũng đậm mùi nếu như cổ bước được ra khỏi cái ti vi… Tuy bị sốc phản cảm nhưng tôi cũng ráng ngóng xem và nghe cho trót, vì dù sao đó cũng là bài hát được yêu thích một thời; còn bây giờ thì tùy cảm thụ của giới trẻ và tùy hứng định hướng của nhà đài…
Tôi bức xúc, ngẫm nghĩ: So với thời buổi học hành bây giờ, cái thời trường làng tôi hồi trước đáng xem là chuyện cổ tích mà có thật…. Rồi tôi lại tự vấn: Thì cái thời đi học của mấy đứa nhỏ bây giờ rồi cũng thành cổ tích vậy thôi… À mà không: Phải khuếch đại thành tân cổ tích mới hợp logic chớ… Tôi nuốt nghẹn miếng cơm, vì hài lòng với ý nghĩ bất chợt đó… Nhưng nhìn quanh căn phòng khách trống vắng, không có ai để tôi tìm sự đồng tình, vì cả vợ chồng con trai tôi cũng vắng nhà, kéo bạn đi nghỉ phép ở mủi Kê Gà mấy hôm rồi…
     Tôi còn nhớ trước ngày được mẹ đưa đến trường, vì sống trong cảnh đời cô nhi quả phụ, một mình nuôi dạy con ăn học, bà căn dặn tôi những điều răn từ sách Quốc văn giáo khoa thư : Phải “kính thầy thương bạn”; phải “thương người như thể thương thân”; phải biết “bầu ơi thương lấy bí cùng...”; vân vân và vân vân… Và nhứt là phải giữ đúng lễ phép, phép tắt nhà trường, phải học hành siêng năng chăm chỉ, tấn tới… Lời dặn dò đó nói chung dễ hiểu, nhưng điều khó nhứt là chuyện học hành làm sao để mà tấn tới đây? Bởi hồi đó, vì hoàn cảnh, nghịch cảnh và bối cảnh gia đình xã hội đang ở thời buổi “…chiến cuộc lan tràn trong xóm thôn nát tan trường tôi…” * …thì được ăn học đầy đủ phải nói là may phúc, không giống như chuyện cổ tích với lòng tin nhờ Bụt phù phép đỡ đầu cho tai qua nạn khỏi, để mà yên bề học hành tấn tới, thi đâu đậu đó…
     Năm tôi học tiểu học, trường làng ngày càng thiếu thầy thiếu lớp, nhiều gia đình phải tản cư về tỉnh thành, nếu không bám trụ được ở vùng sâu vùng xa… Muốn học nữa, học mãi phải về trường tỉnh, quận hay châu thành… mới may ra thi đậu vào trường trung học công lập nữ riêng, nam riêng… Lỡ không đậu vào trường công thì học trường tư thục do nhà chùa hay nhà thờ sáng lập… Nhưng một khi đặt được chân vào cái ngưỡng cửa trung học thời đó là đã thấy lấp ló một con đường tương lai mở ra từ từ… Và nó dẫn đến phương nào là tùy cơ hội có nắm được mảnh bằng tú tài hay không. Lỡ mà “trượt vỏ chuối” hay “thi không ăn ớt thế mà cay” thì cũng đủ đi xin được việc làm ăn lương công nhật, cũng đỡ khổ…  Cảnh học hành phổ biến hồi đó là vậy, như là cổ tích mà không có Bụt, chỉ có ý hướng học hành chăm chỉ mới định đoạt được tương lai… Rồi từ bước ngoặt tú tài, đổ vào đại học, lấy được bằng cử nhơn giáo sư, kỹ sư, bác sỹ… lại là một diễm phúc như mơ ! Thậm chí, sẽ là giấc mộng tuyệt vời, nếu được học bổng đi du học, quả là cả một thiên cổ tích bất cần Bụt, độc đáo ly kỳ, đáng trọng vọng lắm…
     Quả thật, con đường học vấn hồi đó là cổ tích mà có thật… Còn bây giờ thì cũng trên hành trình học vấn tương tự, nhưng được bày xếp theo các quĩ đạo đồng tâm của hệ mặt trời, theo các chu trình: 2 năm nhà trẻ, 3 năm mẫu giáo, 5 năm cấp một, 4 năm cấp hai, 3 năm cấp ba, 4 năm đại học… Rồi tùy trình độ và khả năng “vật chất quyết định ý thức” mà ôm mảnh bằng thạc sĩ rồi tiến sĩ… Nếu tính từ tâm điểm mặt trời, tuần tự bước qua hàng loạt quĩ đạo đồng tâm đó, ra đến giao điểm trên quĩ đạo ngoài cùng với tiếp tuyến tiến sĩ, chắc cú phải lên đến độ tuổi xấp xỉ tứ tuần, mới thoát khỏi hành trình học vấn hệ mặt trời, hay còn gọi là hệ thái dương… Nhưng cùng đồng hành trên các quĩ đạo học vấn đó, rất đa dạng và đa hệ, cũng có lắm chuyện cổ tích nhà trường, mà hình như là có Bụt thật, có quyền năng “lộng giả thành chân” ! Ngài sẵn sàng phù phép châm chước điểm số, ưu đãi chính sách, thân thế, quen biết, sẵn tiền… Thật ra, nếu là tiến sĩ với “bằng thật học thật” thời nay thì cũng đáng làm lễ “vinh qui bái tổ” như lề thói xưa, vì nó cũng rất đậm màu tân cổ tích và rất đáng dành về sau cho cháu con hậu duệ suy gẫm “đãi cát tìm vàng”, để tìm ra những bài học để lại cho đời đời sau nữa… 
Hồi xưa, nhớ thời tiểu học ở trường làng tôi… Có hôm, thầy cô không ai đến lớp, cả bọn lóc nhóc nấn ná ở lại chơi trong sân trường, dưới tàn cây vú sữa đang mùa trái non mới nhú… Đám con trai chơi cờ chó, kề bên đám con gái chơi đánh đủa với trái chanh… Tôi hí hửng sắp thắng ván cờ chó, nhìn lên mặt thằng Tý Chuột mới biết nó lo ra, đang bắt nọn con Mén cứ bị rớt đũa tá lả chỉ vì nó cứ len lén nhìn đáy quần của tôi tét lét từ hồi nào… Ôi trời đất ơi! Thằng Tý Chuột lại còn vừa nhảy cà tưng cà tang vừa hét om xòm, lập đi lập lại câu đồng dao ngẫu hứng: “Con Mén léng phéng thằng Lòi!... Thằng Lòi thòi lòi con Mén…!”. Trong khi con Mén xấu hổ ngồi bệt đất, dãy chân đành đạch, khóc hu hu thật tội nghiệp, cả đám con gái la chửi chí chóe, rượt thằng Tý Chuột, đòi tụt quần nó để trả thù cho Mén, khiến nó túm quần chạy có cờ !... Ngày hôm sau, con Mén vắng mặt, cả đám bạn lóc nhóc 5 trai 8 gái, ngồi chồm hổm trước hiên trường, ngóng đợi thầy cô đến lớp mà buồn so, khiến thằng Tý Chuột vốn to xác, già đầu và tinh nghịch quỉ quái nhất lớp 3 cũng bồn chồn hối hận… Và cũng từ ngày hôm đó, ngôi trường làng tôi cũng đóng kín cổng vì không có thầy cô nào ưng về dạy nữa…
Chuyện cổ tích thằng Lòi là tôi đây, là có thật… Nhưng buồn thật là buồn vì từ đó gia đình tôi cũng rời làng quê ra tỉnh… Và mãi đến nay, không bao giờ tôi được gặp lại Mén, là một nhân vật dễ thương, đáng yêu nhất trong trang cổ tích thời thơ ấu của tôi… Tôi thoáng nghĩ, hồi đó phải chi có Bụt hiện ra để làm lành vết chấn thương xúc cảm tính dục đầu đời của Mén và tôi… Đúng lúc đó, tôi nghe như cô ca sĩ lạ đó hát đến câu: “Trường làng tôi không giây phút tôi quên dù cách xa muôn trùng trường ơi…”… mà cứ ngỡ như là tôi vừa hát lời thương yêu gửi về cho Mén và cho ngôi trường làng tôi với “hai gian lá đơn sơ che trên miếng sân vuông mơ màng…”   
Năm vào học lớp 6, hình ảnh thầy cô lên lớp trông ớn lạ… Phản ứng tự vệ của phận làm trò lúc đó chỉ có nước là làm bộ chăm chú nghe giảng bài, đừng có để lộ cái lo ra, cái lơ mơ mà bị bắt nọn, rầy rà… Nhưng tôi nghĩ, chính những cái lo ra, mơ màng thuở đó cũng là cổ tích, không có Bụt mà chỉ có thầy cô thôi… Tôi lại nghĩ như vậy có vẻ cường điệu quá không, và mỉm cười, vì thủ pháp cường điệu và hư cấu vốn là ngón nghề văn chương mà... 
Hồi đó, tôi hay để ý kỷ số ít thầy cô từ phương xa về trường; còn thầy cô tại chỗ thì hễ gặp ở trong trường hay ngoài đường là chào lễ phép, vì biết đâu mẹ tôi cũng là chỗ quen biết với thầy cô thì sao… Dạo đó có nhiều thầy cô mới ra trường về trường tôi, có người là gốc Bắc di cư, là gốc Trung bản địa hay là gốc Hoàng triều cương thổ, mang dòng họ Tôn Nữ, Tôn Thất… Tôi bật cười vì cả đám bạn hồi đó hay tếu lâm, rất thích đặt lén biệt danh cho thầy cô dòng hoàng tộc… Thật hết biết! Và càng buồn cười hơn, vì số thầy cô mới về trường phải phát hoảng với bọn học trò bạo phổi, bọn con gái cũng như đám con trai … Chúng nó hay tranh thủ mọi cơ hội áp sát thầy cô trong lớp học hay bên hành lang sân trường… để nghe ra cho được cái dấu giọng Bắc, dấu ngã luyến bỗng mang âm dấu sắc, “cũ” nghe như “cú”; còn dấu hỏi lại nhấn trầm thành âm dấu nặng, “củ” thành “cụ”; hoặc có hay không có cờ - tờ - gờ - chờ - nờ - ngờ ở cuối mỗi từ…; hay như âm “trờ” thành “chờ” như “trông kìa!” thành “chông kìa!”; âm “sờ” và “ít xờ” đọc thành “xì” tuốt, như “một ánh xao/sao xa/sa xa xa…”….
Nhưng nhờ vậy mà tình trạng dốt chính tả của bọn nó được cải thiện rất đáng kể … Vui nhứt là thầy dạy hóa hay nói “hít dzô bay jazz…”; thầy văn chương tả cảnh “vào cái đêm chăng chòn…”; còn thầy toán đọc đề giọng “Nhe Treng”: “Choe mẹt ké tem giéc keng…”… Thậm chí chúng nó còn cả gan mời thầy “lên vườn nhà em chơi” mà Thầy Cô cứ nghe ra như là lên… đâu đó. Có lần bắt gặp tôi nhại giọng Huế, chọc bọn con gái: “Chừ ngủ đủ mô… Răng đi hè!”… Cô Tôn Nữ… dạy vẽ nhéo tai tôi, nhại lại giọng nói láy kiểu Nam bộ: “Hơi bị chếch chắc gồi!”… Rồi cô cảnh cáo: “ Lần ni ! Bò qua hỉ ?...” Bọn tôi lại được một phen tức cười mà không dám cười…
Thật ra ấn tượng về thầy cô qua phương ngữ, ngữ âm, ngữ điệu, đẹp dáng, thân thiện hay khả ái… cũng là thêm một đường dẫn đến khả năng hấp thụ tinh tường tận những kiến thức, tri thức, nhận thức của học trò; thậm chí còn là thứ keo kết dính nhiều kỷ niệm thầy trò như cổ tích, hơn là những khẩu hiệu thi đua, pháp lệnh cải đi cách lại như bây giờ… Tóm lại, tôi nghĩ học trò hồi đó học rất vui và vui học, khi đổ đạt và thành tài, đều có trong hành trang vào đời của mình những mẩu cổ tích có thật và giàu kỷ niệm như vậy đó…
Chả bù bọn trẻ bây giờ, chúng chê chuyện cổ tích ở học đường hồi xưa là cổ lỗ xỉ… Thay vào đó, chúng tạo nên những mẩu cổ tích tân thời hơn, như mê con mèo máy Doremon đi xuôi đi ngược thời gian thế kỷ, chực chờ cơ hội bày tiệc tây Happy Birthday kỷ niệm sinh nhật ở nhà hàng; như ngày Valentine tặng quà tình nhân, ngày Halloween mở vũ hội hóa trang ma quái… Và chúng cũng tranh thủ cả cơ hội bày tiệc ta, nhân ngày 8 tháng Ba “đi ra đi vào”, ngày phụ nữ 20.10 “vừa khóc vừa cười…”, ngày nhà giáo Việt Nam 20.11 “dâng hoa Tết thầy”… Và không khéo, quanh năm suốt tháng, đối với bọn trẻ bây giờ, thì ngày nào cũng là tân cổ tích, siêu cổ tích, tự tiện “phơi hàng” đa dạng trên mạng truyền thông, chẳng màng đến tư cách, đạo đức, phẩm hạnh học trò, bất kể danh dự gia đình hay thanh danh của nhà trường…
Tôi buông đũa xuống mâm cơm tự nấu qua loa… ngao ngán, vừa đổi tư thế ngồi cho đỡ mỏi, vừa ngẫm nghĩ mỗi thời mỗi thế thôi mà!… Tuy nhiên, vấn đề là phải biết làm sao cho hết những cái phải làm sao, đừng để nền giáo dục ngày nay ngày càng trượt dài trong tư thế tụt hậu, suy đồi, hỗn tạp vì đó là quốc nạn… Và nếu được, thì hãy lưu tâm những thiên cổ tích nhà trường, hãy ôn cố tri tân, hãy duy tân, hướng thẳng các thế hệ học tập bây giờ vào xu thế thời đại hội nhập, với chiếc chìa khóa sinh ngữ trao tay, để mở ra cánh cửa “chu du thiên hạ” và tiếp cận kho tàng tri thức nhân loại đồ sộ không biên giới…
Tôi đứng lên đi đi lại lại trong căn phòng khách nhà mình, mạn phép xin ông nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu, biết đâu chừng đã hóa thành Bụt, cho tôi được ôm đàn và hát, giống như ông thời sinh tiền với chất giọng cổ tích, đủ mê hoặc bạn bè tôi, vợ con tôi, cháu tôi: “… Trường làng tôi không giây phút tôi quên nơi sống bao kỷ niệm ngày xanh…”
         
          Viết tại trường… 24.10.2013
* Trong bài viết có mạn phép sử dụng vài câu ca từ “Trường làng tôi” của cố nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu.