09/04/2013

Để luôn là cô học trò nhỏ



Huỳnh Phương Nghĩa

“Vòm cây cối ngàn xanh xuân em đó.
Cành giơ ra là nhánh cũng ôm về”.  
                                          (Bùi Giáng)




Vâng, đó là qui luật của muôn đời cũng giống như bốn mùa vẫn mãi tuần hoàn theo thời gian. Thời gian cứ lặng lẽ trôi; cuộc sống luôn biến đổi, thăng trầm, dù mây vẫn xanh và biển muôn đời vẫn rộng. Hãy nhìn thật sâu vào cuộc sống, hãy nhìn nhau bao dung và độ lượng hơn để chúng ta cùng hướng về cái đẹp, hướng về những tình cảm thiêng liêng mà chỉ con người mới có được; chứ đất với trời chỉ có nắng với mưa.
“Trong veo là nắng với trời
Ngổn ngang thương nhớ là người với nhau” (Phạm Tiến Duật)
Đúng vậy, tình yêu quê hương, tình phụ tử, tình thầy trò, tình bạn… là những tình cảm thật đẹp. Ôi, yêu làm sao! Thương làm sao! Nhớ làm sao nơi mình đã sinh ra, nơi có gia đình, thầy cô, bạn bè; nơi có những rung động đầu đời… mà chỉ cần nghĩ đến, tôi đã thấy tâm hồn mình thật bình an:
“Bến Tre hỡi, Bến Tre ơi,
Ta yêu cả xứ cả nguời Bến Tre”
Có lẽ, đó cũng chính là hành trang thật đẹp, thật cần thiết trong cuộc sống của chúng ta. Làm sao có thể quên được ngôi trường mà tôi đã học thời phổ thông ở Bến Tre: nơi đó có những dãy lầu A, B, C, D… Thư viện này, những đêm lửa trại, những buổi tập dượt văn nghệ với các bạn trong nhóm Hương Sống này; những lần trao đổi với nhau về chủ đề cho tờ báo Đồng Vọng chuẩn bị thành hình; vui, buồn cười, khóc… Nhưng tất cả đã là kỷ niệm và có những kỷ niệm thân thuộc ruột rà như con cái, cha mẹ thì làm sao có thể quên được? Bạn bè giờ thì mỗi đứa một nơi, đứa còn đứa mất, đứa đi đứa ở… Nhưng dẫu sao, chúng tôi vẫn còn một điều an ủi là mỗi năm, có dịp ngồi lại với nhau cùng thầy cô để hoài niệm về quá khứ và cũng để thấy được rằng: ở tuổi chúng tôi mà còn có được thầy cô bên cạnh mình, để luôn là đứa học trò nhỏ thì đó là điều vô cùng hạnh phúc.
Ngày xưa, khi học chung với nhau ở Bến Tre, chúng tôi mỗi người đang ở độ tuổi mà có người gọi là “lứa tuổi thích ô mai” còn rất vô tư, hồn nhiên; ăn chưa no, lo chưa tới; còn giờ đây gặp lại thì… mỗi người có một cuộc sống riêng. Có khi vì bận mưu sinh, chúng tôi không có điều kiện để gặp nhau thường xuyên nhưng tận trong sâu thẳm của tâm hồn, chúng tôi luôn mong mỏi được ngồi lại với nhau để tâm sự, kể lể những buồn vui, thậm chí còn có thể ôm nhau mà khóc để cảm thông, để chia sẻ những nhọc nhằn, những khó khăn trong cuộc sống. Những đứa học trò ngây thơ, bé bỏng ngày nào nay tóc cũng đã bắt đầu pha sương, ngồi bên cạnh thầy cô của mình với những mái tóc bạc phơ để chuyện trò, để nhắc về quá khứ…
Ôi thật đẹp! Thật cảm động và cũng thật ngậm ngùi làm sao… Nhưng dù cuộc sống có thế nào, chúng tôi cũng sẽ phải luôn nở nụ cười như lời một người bạn luôn nhắc nhở: “Dù ở tận cùng của sự đau khổ, cũng vẫn phải lạc quan, luôn nở nụ cười dù biết rằng sau nụ cười có thể là những nỗi đau”.
Xin cảm ơn cuộc đời, cảm ơn Bến Tre, cảm ơn quý thầy cô, bạn bè của tôi… đã giúp tôi luôn có niềm tin trong cuộc sống, có những tình cảm chân tình, có một cuộc sống thật bình an.
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn thầy cô đã dạy dỗ chúng tôi ở ngôi trường Bến Tre này và có thể khẳng định một điều: Chúng tôi thật may mắn khi trong cuộc đời mình được một lần làm học trò của thầy cô.
“Có những điều vô cùng giản dị
Sao mãi giờ con mới nhận ra”.
Thầy cô ơi, tuổi tác đã hằn sâu những vết nhăn trên trán thầy cô, làm tóc thầy cô thêm sợi bạc nhưng tấm lòng của thầy cô đối với chúng em mãi mãi không hề cạn kiệt…          

08/04/2013




Hơn ba mươi lăm năm, gặp lại thầy cũ
Nguyễn Kim Trân

Nhóm Hương Sống.


T
hời gian qua đi, tôi tình cờ gặp lại thầy vào ngày họp mặt cựu học sinh Trường Trung học Kiến Hòa năm 2010. Thầy cũng giống như ngày nào. Trong tâm trí tôi, bao kỷ niệm chợt ùa về khi tôi hỏi: Thầy còn nhớ em không ? Nếu thầy không nhớ thì em sẽ giận!
Khi tôi học lớp 11A4, môn Pháp văn do thầy…dạy, môn Văn do thầy Kiên dạy, môn Vạn vật: thầy Quế, môn Toán: thầy Quới. Có biết bao kỷ niệm thời áo trắng. Tôi vẫn mong một ngày gặp lại thầy để ôn lại kỷ niệm ngày xưa đó.
Khi xưa, trong lớp, tôi là một học sinh bình thường, đơn giản, nhút nhát nhưng lại có một cái tên thật đặc biệt: Kim Trân. Tỉnh lỵ Trúc Giang lúc đó có một hiệu tiệm rất đặc biệt mà ai cũng biết: “Huê Trân - Tiệm trà Con Khỉ” và rồi tôi gặp “ác mộng” cũng từ đó. Tôi là một con nhỏ rất sợ thầy cô giáo (có lẽ do cha tôi cũng là thầy mà rất khó). Mỗi khi tới tiết dạy của thầy, tôi cứ nhìn chăm chú vào cử chỉ của thầy, mỗi lần cây viết của thầy rà lên rà xuống là tim tôi muốn ngừng đập vì có nghĩa sẽ là tôi,  không phải là Kim Trân mà là “tiệm trà Con Khỉ”. Cả lớp lại cười rần rần lên, tôi sợ hết cả hồn.  Tôi là một đứa hay bị thầy gọi nhất, gần như trở thành một ám ảnh. Trong suốt năm học, tôi sợ đến mức không bao giờ dám đối diện với thầy bất cứ ở đâu. Mỗi lần có việc lên văn phòng, tôi cứ phải thập thò, thập thò ngoài cửa nhìn dáo dác tìm mãi không thấy thầy thì mới dám vào. Bữa nọ, tôi chắc ăn không có thầy, mới đường hoàng bước vào văn phòng thì bỗng có tiếng gọi: “Tiệm trà Con Khỉ đi đâu đó”. Tôi hoảng hồn nhìn lại rồi phóng thẳng một mạch về lớp, không còn nhớ mình đến văn phòng để làm gì nữa.
Đôi khi, thầy cũng bênh vực tôi. Có một lần, tôi đi ngang qua lớp 11A5 đang lúc sắp hàng chuẩn bị vào lớp, nguyên cả lớp réo tên tôi để  trêu chọc, thầy lại rầy: “Không được chọc nó”. Có lẽ lúc đó, thầy nghĩ chỉ để thầy chọc ghẹo tôi thôi!
Thời gian trôi qua, tôi luôn luôn mong có một lần gặp lại thầy như để gặp lại bao kỷ niệm ngày xưa non trẻ, thơ ngây mà không bao giờ quên được. Mãi đến bây giờ, tôi vẫn chưa quên được một điều gì trong những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường. Kỷ niệm dù vui hay buồn cũng vẫn là kỷ niệm.
Sao tôi vẫn thương hoài màu áo trắng
Áo học trò, màu áo của trinh nguyên
Áo thơ ngây mà đượm nét hữu tình
Áo biểu tượng cho một thời nghiên bút.
Xin sống lại cuộc đời trong giây phút
Bạn bè đâu, sao chỉ có một mình
Sầu trở nặng tâm tình qua áo trắng
Rời trường yêu, tôi bước vào cay đắng
Biết làm sao mà gạn lọc vàng thau
Và áo trắng cũng hoàn là tay trắng!

Thư tình học trò



            Huỳnh Tấn Kim Khánh

B
uổi chiều mùa đông buồn. Thu mình một góc phòng giáo viên im ắng khi mọi người lên lớp, tôi đọc lại bài thơ. Lượt cuối đọc thành lời.
Từng tiếng thơ phải đọc thủ thỉ dịu êm vì là thư tình - đang nói với người yêu dấu mà. Nhưng ở đây không là giọng ngâm, giọng hát mật ngọt của tình yêu. Mà là hiện thực trần trụi, khắc nghiệt của quê hương mình, đất nước mình hiển hiện trên những bức tranh loang lổ sắc màu: màu nhờn nhợt của lương tri, màu đỏ rực của của chiến tranh, màu đen thẫm của địa ngục trần gian - những vệt màu tác giả đã nhìn thấy, cảm nhận suy tư và chiêm nghiệm.
Quê hương mình bao miếng đất đã bị khai quang, dưới tiếng phi cơ rền trời, và cuối vùng đất xa nào đó có mấy thân xác quặt què vì hơi ngạt của bom.
Tim tôi rung lên
Anh mới thấy mẹ cha mòn nước mắt
Anh mới thấy cuộc đời không thơm nồng
Bữa cơm vo mẹ hốt từng nắm gạo chắt lại đi nửa nắm để dành, dù phần cơm thiếu đi vài chén
Buổi trưa cho không còn báo để đọc
Tim tôi thắt lại.
Gian phòng bỗng như bị hút hết không khí. Ngoài khung cửa, chùm rễ cây si im lìm buông thỏng, nhưng chiếc lá bay nhẹ. Sân trường vàng vọt nắng, lành lạnh theo từng gợn gió phả từ mặt hồ Chung Thủy mờ sương…
Khoảng một tháng sau, Giai phẩm mùa Xuân Trung học Kiến Hòa Canh Tuất 1970 in xong. Phòng báo chí nhà trường tổ chức phát thưởng, đặc biệt cho hai giải. Văn với bài “Thì thầm trong đêm” của Mạc Thảo. (Em gái này đã khóc, không lên nhận giải - hai mươi năm sau tôi mới hiểu nguyên do). Còn thơ, bài “Thư tình học trò”.
Bài thơ ghi bút danh Phan Thế Huỳnh Hà - của em Phan Thế Hùng, lớp 11A5 tôi dạy văn năm đó. Tài hoa trong nghệ thuật và tư tưởng tiến bộ ở lứa tuổi 17 làm tôi kinh ngạc lẫn mến yêu. Còn nhớ em, chàng trai trẻ có khuôn mặt hiền hòa, đôi chút cương nghị, học văn khá, ít nói. Phải chăng mọi suy nghĩ, em đã thu liễm tận đáy lòng, để có dịp là vút lên trong văn chương.
Hơn bốn mươi năm, một nửa đời người rồi… Mỗi năm vào cuối đông, hè phố đầy báo xuân, tôi về giở lại Giai phẩm mùa Xuân Trung học Công lập Kiến Hòa 1970 - giấy đã ố vàng, có trang dòn sắp nát, được đọc “Thư tình học trò”.
Thơ văn học trò lay động lòng thầy. Hơn bốn mươi năm, tôi cố tìm em mà không chút tin tức. Em từng viết trong “Tâm bút cho bạn bè”, cũng đăng trên báo xuân năm ấy: “Năm sáu năm rồi mình đã sống trong mái trường Kiến Hòa thân yêu này, từng nghe một ông thầy, một cô cho một điều phải, cho một con đường đi nào đó phải không? Trong con đường đã vạch ấy, mầy đã chọn, tao đã chọn để rồi bây giờ dần tách ra xa, xa dần mãi”.
Lẽ nào cứ “tách ra xa, xa dần mãi” hỡi em?

Minh họa: S. Thống.



Cô Nguyễn Thị Huỳnh từ trần

 Nguyễn Thị Huỳnh sinh năm 1924, là cựu giám thị Trường THCL Kiến Hoà, đã từ trần tại TP Bến Tre ngày 5-4-2013, nhằm ngày 25 tháng Hai năm Quý Tỵ, hưởng thọ 90 tuổi.
            Lễ an táng diễn ra ngày 8-4-2013, nhằm ngày 28 tháng Hai năm Quý Tỵ.
           Trong thời gian lễ tang, nhiều cựu giáo viên và cựu học sinh của Trường THCL Kiến Hoà đã đến thắp hương tiễn biệt cô Nguyễn Thị Huỳnh.
           Ban Liên lạc Cựu giáo viên, cựu học sinh Trường THCL Kiến Hoà xin thành kính phân ưu cùng gia quyến.

05/04/2013



      Vui sống
            Lương Văn Tô My

                     Nhóm BT: Bỏ ra nhiều tỉ đồng mở quán chay khang trang, bán thức ăn rất rẻ. Anh Lương Văn Tô My bán cơm không để làm giàu mà để làm việc nghĩa.

Quán chay Nhường Trà, 538C Nguyễn Đình Chiểu, phường  8, TP Bến  Tre

N
ăm 2012 đã qua. Nhìn lại hoạt động của Ban liên lạc Cựu Giáo viên- Học sinh Trung học Kiến Hòa- Bến Tre, chúng em rút ra bài học cho năm 2013. Các học sinh chúng em đã tổ chức họp mặt hàng cuối năm. Đi chơi xa ở Long Hải, Vũng Tàu, khu du lịch Sông Rây. Ăn Trung thu ở nhà thầy cô Phu ở xã Phú An Hòa. Và đến chùa Hội Phước ở Tân Thạch, nơi thờ cô Đang, dạy sử. Tham gia giỗ hội quí thầy cô đã mất, ở chùa Bạch Vân. Đi viếng đám tang của cô vợ thầy Tam Nhiều. Viếng đám tang cô Lê Thị Lư, vợ thầy Lạc. Và viếng đám tang cô Huỳnh Thị Bọ. Viếng đám tang mẹ của chị Lê Thị Chúc, cựu học sinh.
Dự đám cưới con của các bạn cựu học sinh. Đám cưới con gái chị Thanh và anh Huỳnh Háo Nghĩa. Đám cưới con gái anh Liềm, khóa 1966-1973 ở Thạnh Phú. Đám cưới con chị Ri. Đám cưới con gái chị Anh Thư- Mỏ Cày.
Từ Trung thu, qua lời kêu gọi của các bạn cựu học sinh Bồ Đề, chúng em cùng thầy cô Phu tham gia nấu ăn chay miễn phí cho người nghèo ở bếp ăn từ thiện Bệnh viện Trần Văn An Bến Tre, mỗi tháng hai ngày, 15 và 30 âm lịch.
Trở lại trường xưa, nay là Trường Trung học phổ thông chuyên Bến Tre, chúng em mời thầy cô Phu tham gia tặng học bổng cho học sinh nghèo, học giỏi…
Hoạt động thường xuyên của Ban liên lạc chủ yếu bằng điện thoại, email để liên lạc, thăm hỏi thầy cô và các bạn. Và nơi gặp gỡ tại Bến Tre là ở quán Nhường Trà. Ngày Thầy Cô 20 -11 cũng tổ chức ở quán nầy. Chúng em đến thăm nhà thầy Kiên, thầy Nhiều, thầy Sao, thầy Lạc, thầy Khánh, thầy Tuấn cô Thủy Anh, cô Lan, cô Mai. Năm 2012, có thầy cô Trọng , cô Hạnh, cô Ánh vợ thầy Gia về thăm. Các bạn học sinh thì có chị Loan, chị Ngân, chị Xuân Lan cấp lớp 1966-1973 về thăm. Cấp lớp 1966-1973, năm nào cũng tổ chức họp mặt vào ngày 1 tháng 1.
Trong dịp Tết, chúng em tổ chức ở quán Nhường Trà tặng 50 phần quà Tết cho hộ nghèo ở phường 8, thành phố Bến Tre.

Học sinh dùng cơm trưa tại quán chay Nhường  Trà

Viết lại những việc làm nầy, chúng em cảm ơn cuộc đời, quý thầy cô và các bạn, đã cho chúng em có sức khỏe, cơ hội, và duyên để vui làm. Đem đến niềm vui sống cho thầy cô và các bạn là điều mong ước của Ban Liên lạc.
Năm 2013, chúng em kính mời quý thầy cô và các bạn giúp đỡ, thông tin cho chúng em biết để chúng em làm công việc chung nầy được tốt hơn.
Hai công việc chính của năm 2013 là tương trợ, hết lòng với thầy cô và các bạn.
Mong mọi điều tốt đẹp, hạnh phúc đến với mọi người và các bạn! 

Anh Lương Văn Tô My phục vụ khách đến quán chay Nhường  Trà.
                    

Nhớ về những dòng sông




Phan Lữ Hoàng Hà

Di chuyển bằng đò trên sông nước quả là rề rà, nhiều khi lâu lắc đến sốt ruột. Nhưng khi đi đò, ẩn hiện phía trước là một miền quê êm đềm với bông bần trắng rụng đầy bên sông…

Sông Băng Cung ( Thạnh Phú)

Chị Lê Thị Ánh quê chợ Bến Dinh, xã An Thạnh, huyện Thạnh Phú thi đậu  vào lớp đệ thất (lớp 6) Trường THCL Kiến Hòa năm 1967. Lúc này, gia đình chị có nhà ở ấp 1 Mỹ Hóa (phường 5 hiện nay) tỉnh lỵ Kiến Hòa. Mỗi tháng một lần, chị về quê xin tiền, thực phẩm rồi trở lên Bến Tre. Bảy năm theo học ở Trường THCL Kiến Hòa là chồng chất những chuyến đi xuôi ngược trên dòng sông Hàm Luông của chị Ánh vì lúc đó phương tiện đi lại thuận tiện nhất vẫn là đò…
Đất cù lao Bến Tre với sông rạch chằng chịt là trở ngại lớn cho phát triển giao thông đường bộ. Sau năm 1975, đi đâu ở nông thôn Bến Tre đều gặp phải cầu khỉ; các cháu học sinh, nông dân làm ra sản phẩm, những ca bệnh cấp cứu…đều phải vượt qua những cây cầu “đau khổ” đó rồi còn phải lụy đò! Bối cảnh chung bấy giờ là dựa vào giao thông đường thủy. Từ huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú, Chợ Lách và các xã vùng sâu khác, người dân muốn đến thị xã Bến Tre đều phải đi bằng đò. Những chiếc đò khách chở chật ních người, đưa khách ban ngày lẫn ban đêm. Trong đêm, hành khách không đón được đò là phải chờ đến đêm sau. Họ đón đò bằng những cây đuốc lá dừa. Đuốc lá dừa huơ sáng khắp bên bờ sông. Tại Bến Lở chợ thị xã Bến Tre, từ lúc nửa đêm đến 2, 3 giờ chiều mỗi ngày, lúc nào cũng tấp nập những con đò chở hành khách lẫn hàng hóa.

Bến Lở

            Anh bạn đồng nghiệp của tôi, quê xã Phước Long (Giồng Trôm), cựu học sinh Trường THCL Kiến Hòa, ban C nói rằng ở vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long và Bến Tre nói riêng có tất cả ba loại đò: đò ngang, đò dọc và đò tàu. Đò ngang, người chủ đò đón khách rồi chèo ngang qua sông rạch. Đò dọc là đò chạy trong tỉnh và đò tàu là chạy liên tỉnh, như đò Đại Đức từ Bến Tre đi Trà Vinh và ngược lại chẳng hạn. Ký ức về tuổi thơ và những con đò ở anh xem ra sống động lắm: “Đò vìa”- thấy đò từ Bến Tre về đến bến sông quê là đám trẻ học sinh thời đó reo lên, reo lên chỉ hai tiếng như vậy – anh nói – Và rồi buổi trưa đó sẽ có bánh mì từ tay má cho. Những ổ bánh mì má đi chợ Bến Tre mua về được gói bằng lá chuối khô và buộc bằng dây lác – “hết kỵ” luôn. Có đứa còn quen cả mùi khói dầu tỏa ra từ ống khói đò - cái mùi làm cho tuổi thơ sống bên sông nước ngóng chờ, nôn nao mỗi khi đò vìa.
            Ở Phước Long trước đây có 5 chiếc đò khách nhưng hiện chỉ còn một chiếc để chở hàng hóa. Xã Thuận Điền có 3 chiếc, nhưng hiện chỉ còn một chiếc và tới đây, khi đường tỉnh 887 nối từ TP Bến Tre đến ngã ba xã Tân Thanh hoàn thành, chắc gì con đò kia còn tiếp tục hoạt động.
Chị Hứa Thị Chạy cũng quê chợ Bến Dinh tâm sự: “Hơn 30 năm qua tôi đã theo những con đò từ Thạnh Phú đến Bến Tre để lấy hàng hóa cho các tiệm bán tạp hóa tại chợ Bến Dinh. Các tiệm ở đây cần mặt hàng gì thì ghi toa cho tôi, tôi giao hàng chủ yếu là ăn tiền huê hồng ở hai đầu cho”.
30 năm qua, chiếc đò tựa như…nhà của chị Chạy. Tối đến, khi xuống đò để đi lấy hàng, chị cứ mắc chiếc võng rồi ngủ, mặc cho chiếc đò thủng thẳng thả theo cùng con nước. Lúc gần sáng, đò tấp vào Bến Lở, chị lên chợ Bến Tre bổ hàng rồi con đò sẽ nổ máy trở về Thạnh Phú lúc 8 giờ 30. Chị Chạy nói giọng buồn buồn: “Hồi đó đi một ngày, nghỉ một ngày, nhưng bây giờ thì ba, bốn bữa mới đi một chuyến. Vài chiếc đò khách còn lại, cả tuần lễ mới tới chuyến mình chạy một lần. Đò chạy gần như không còn hành khách, chủ yếu là chở hàng hóa. Mà không có khách, đò cần chi chạy nhanh, tốn dầu…”. Và như thế chị Chạy tiếp tục mắc chiếc võng trên đò, lênh đênh cùng sông nước dẫn về vùng đất cuối cù lao Minh, xa lắc xa lơ.

Đò chạy từ Thạnh Phú đi TP. HCM.

Giờ đây, hầu hết các huyện ở Bến Tre, kể cả các huyện ven biển đều có tuyến xe buýt chạy đến. Anh bạn tôi từ xã Giao Thạnh đi đám giỗ ở thành phố Bến Tre, vậy mà anh vẫn dám rề rà cho đến hơn 3 giờ chiều mới chịu rút lui bởi sông Hàm Luông nay đã có cầu, xe buýt về cầu Ván (Giao Thạnh) tới chiều vẫn còn. Giao thông đường bộ phát triển, đường sá đi lại tiện lợi nên những con đò khách đang mất dần là chuyện đương nhiên. Có điều, với chị Ánh, chị Chạy và nhiều chủ đò khác nữa, có lẽ họ vẫn lưu luyến với những con đò dù phải mất rất nhiều thời gian đi cùng với nó.

Hồ Chung Thủy
 Bóng Dừa


Hồ Chung Thủy.

T
ôi về Bến Tre. Quê tôi hiền hòa. Con sông êm đềm. Hàng dừa xanh mướt. Ruộng lúa vàng ươm. Vườn cây trĩu quả... Đứng giữa những đặc trưng ấy là hồ Chung Thủy.
Hồ Chung Thủy hình chữ nhật, có nhiều cây râm mát. Mặt hồ lúc nào cũng lăn tăn sóng nước. Mùa nào gió cũng hiu hiu đủ làm dịu lòng người. Ngồi trên bờ hồ dưới tàn cây xòe rộng thật là thích. Thuở còn đi học, chúng tôi thường ngồi ở băng đá ngắm cảnh với dòng người qua lại chung quanh hồ. Ở đó, chúng tôi- những người con được nuôi dưỡng bởi sự chất phác, thuần hậu của sự thủy chung. Ở đó, chúng tôi học kiến thức, học cách ở đời và học làm người.
Trường tôi ở cạnh hồ Chung Thủy. Thuở nhỏ, tôi tự hỏi sao hồ này lấy tên là Chung Thủy? Chung thủy là gì? Tại sao phải chung thủy? Chung thủy với cái gì? Hỏi và hỏi. Càng lớn khôn, tôi càng hiểu rằng chữ chung thủy không nhỏ - rất lớn- bao trùm mọi sự việc ở trên đời này.Thôi thì đành giới hạn đối tượng của từ chung thủy: chung thủy với mái trường xưa…Phong trào cựu giáo viên- cựu học sinh là nơi hội tụ thầy cô, bạn bè chung một mái trường. Biết ơn thầy cô. Thân ái. Đoàn kết. Chia sẻ…Hoạt động của phong trào này, theo tôi, không ngoài mục đích ấy. Dù đi đâu ở đâu cũng nhớ trường cũ, nhớ thầy cô, nhớ một thời học phổ thông, nhớ hồ Chung Thủy. Nhớ những tàn cây chở che những đứa con sinh sống ở Bến Tre  hoặc những đứa con nhọc nhằn mưu sinh nơi xứ lạ quê người. Dù đi đâu, ở đâu, nếu có dịp về Bến Tre, ta ra bờ hồ ngồi uống ly café, một tách trà, ngắm hồ Chung Thủy mới thấy tuyệt vời làm sao! Bây giờ, tuy hồ đã được sửa chữa khang trang nhưng tôi vẫn thích bờ hồ trước kia hơn. Mộc mạc. Tự nhiên. Dìu dịu. Và cũng không hiểu từ bao giờ, chúng tôi cảm nhận được tính chung thủy của con người Bến Tre. Có phải hồ Chung Thủy luôn nhắc nhở điều ấy? Hồ đã nâng khái niệm chung thủy thành bản chất thủy chung của con người Bến Tre, của cựu học sinh Bến Tre?
Bây giờ, chúng ta tóc đã bạc. Thầy cô càng già yếu hơn. Mái trường đã rêu phong. Cây si phải mười người ôm mới xuể… Thôi thì hãy mở lòng ra thương yêu, trân trọng những điều hay để ta thành công, cảm ơn và tha thứ những điều dở để ta chắc bước hơn trong cuộc sống. Tất cả chỉ là hai mặt của một thể thống nhất. Ở đời và làm người thì phải vậy. Không có sự thủy chung của con người thì làm gì có hồ mang tên Chung Thủy. Ngồi lại với nhau, xích gần nhau hơn nữa để cuối cuộc đời đầy ấp tiếng cười. Nghen!