26/03/2013

Thương lắm trường ơi

Nguyễn Thị Lan

Nếu một mai tôi xa trường mãi mãi
Nhớ học trò, thương lắm trường ơi
Tôi đến với ngôi trường từ độ tuổi đôi mươi
Khung lớp tường vôi mái ngói đỏ tươi
Bảng viết băng ngồi còn thơm hương gỗ mới
Hàng cây non chưa cao tới bằng người
Tôi đã quen sớm chiều lên bục giảng
Đã quen nhìn bao ánh mắt học trò
Hơi thở đã quen bụi phấn bảng
Chân đã quen qua mấy dãy hành lang
Ba mươi năm tôi cùng trường bầu bạn
Chưa nghĩ tới ngày xa cách nhau đâu
Nay ngói đỏ trường xưa rêu phủ
Tóc ngày xanh bụi phấn đã phai màu
Tường vôi xưa hằn vết răn năm tháng
Hàng cây non giờ cao bóng giao cành
Mùa từng mùa lá đổ nhịp thời gian
Bè bạn cũ cũng có người quá vãng
Tôi vẫn còn đây với ngôi trường cũ
Để tiếp ghi vào ký ức riêng mình
Những buồn vui gian khổ những hy sinh
Bằng tình cảm của trái tim cô giáo
Hạ đến từng năm hoa tươi đỏ thắm
Nhẹ vương rơi trên áo trắng trinh nguyên
Khắc đậm bao hình bóng nhỏ tôi thương
Trong khung cảnh ngôi trường xưa yêu mến
Năm tháng dần qua rồi một ngày sẽ đến
Tôi sẽ xa ngôi trường cũ thân quen
Sẽ xa rời bục giảng bảng đen
Nhớ hương phấn những ngày xưa lên lớp
Nhớ đường đi, nhớ cổng trường ngói lợp
Nhớ khung sân bóng rợp, nhớ không thôi
Tất cả chỉ còn là kỷ niệm ở trong tôi
Nhớ nhất học trò, thương thương lắm, trường ơi!
                                                                  1990.
Cô Nguyễn Thị Lan .

22/03/2013

Thư thăm hỏi của thầy Trần Kim Quế, nguyên hiệu trưởng Trường Trung học Công lập Kiến Hòa

Wachenheim, 29-03-2006
Các em Trương Thọ Lương, Phan Văn Lá, Cao Thành Văn, Trần Minh Tiên, Huỳnh Thanh Quang và tất cả các em thương mến!
Thầy đã trở lại Đức sau hơn 3 tuần về thăm quê nhà. Thầy rất vui được gặp lại các em ở nhà 2 em Lân và Phượng, khi thầy về Bến Tre thăm vài thầy, cô già cùng dạy với thầy ngày xưa ở Trường Kiến Hòa và thăm mộ vài thầy cô đã qua đời.
Rất tiếc gặp các em trong thời gian thật ngắn ngủi, buổi tối, nên thầy trò không có dịp để thăm hỏi, trò chuyện với nhau được nhiều; nhưng đó là một kỷ niệm không quên cho thầy, và thầy đã rất cảm động; vì thầy đã rời trường hơn ba mươi năm rồi, và các em ngày nay đã thật lớn, có em đã có cháu nội, cháu ngoại, đã thành đạt cao trong cuộc sống, trong xã hội…, nhưng các em vẫn nhớ thầy, cô cũ của mình ngày xưa, cũng như mong gặp lại thầy. Thầy cám ơn các em về tình cảm đã dành cho thầy.
Bút tích của thầy Trần Kim Quế

Thầy cũng rất vui, qua em Lý Ngẩu, em Lá…, biết các em, ngoài tình cảm với trường xưa, thầy cũ, còn có tình bạn bè đồng lớp đồng trường thật thân thiết, gắn bó. Thỉnh thoảng các em họp mặt vui chơi, đùa giỡn như thuở còn đi học, không phân biệt địa vị xã hội, lớn nhỏ, giàu nghèo hiện tại. Thật quý biết bao những tình cảm như vậy.
Trong số các em, giờ có em Trương Thọ Lương đang nối tiếp công việc của các thầy, cô ở ngôi trường cũ; thầy tin em Lương cũng sẽ tạo cho tỉnh nhà nhiều thế hệ học sinh có tài năng và giàu tình nghĩa như các em. Thầy cũng mong các em đã rời trường, đã thành đạt, nếu có điều kiện, thì giúp đỡ cho các em học sinh đàn em có khó khăn, đang học tập ở trường.
Sau hết, thầy nhờ em Minh Tiên chuyển giùm lời cám ơn của thầy đến Ba em, đã đến thăm thầy nhân buổi họp mặt của các em. Thầy thật cảm kích thâm tình của Ba em.
Thầy cũng sẽ nhớ mãi giọng hát, giọng ngâm thật trầm ấm, ngọt ngào như lúc còn học trò của em Lý Ngẩu, Minh Tiên, Kim Anh…và các em nhóm văn nghệ Hương Sống ngày xưa, trong đêm họp mặt.
Thầy mến thăm các em. Mến chúc tất cả các em luôn thật vui mạnh, nhiều may mắn và nhiều thành đạt trong cuộc sống!
Thương mến,
Một thầy cũ Trường Trung học Kiến Hòa ngày xưa, Trần Kim Quế.

Lời mở đầu

Hôm nay, chúng ta vui mừng họp mặt năm mới Quý Tỵ đầy niềm vui.
Đã mười chín năm qua, kể từ khi thành lập (1994), Nhóm cựu Giáo viên - Cựu Học sinh Trung học Công lập Bến Tre (Kiến Hòa) vẫn họp mặt đều đặn hàng năm vào một ngày sau Rằm tháng Chạp để cùng ôn lại những kỷ niệm ngọt ngào dưới mái trường xưa với bao nụ cười rạng rỡ xen lẫn những giọt nước mắt yêu thương.
Kỷ niệm thì vẫn nguyên vẹn cho dù chừng như nửa đời người đã trôi qua, từ ngày chúng ta cắp sách đến ngôi trường Trung học Bến Tre (Kiến Hòa) ở những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Từng hình ảnh của ngày xưa lần lượt hiện về trong tâm tưởng… Giờ tan học, áo trắng học trò tràn ngập cổng trường như đàn bướm lượn quanh hồ Chung Thủy. Những chàng trai ôm ấp mộng tương lai, bao cô gái với mái tóc dài, mắt môi không trang điểm. Ôi những thiên thần thuần khiết!... Dù ngày ấy mộng mơ của tuổi trẻ có võ vàng ít nhiều giữa quê hương bom rơi đạn nổ, chúng ta vẫn tìm một màu xanh hy vọng, hy vọng quê nhà im tiếng súng, đất nước lại thanh bình. Và cái đáng trân trọng chính là tình yêu quê hương, lòng quý trọng thầy cô, yêu mến bạn bè, luyến lưu trường lớp.
Còn những giọt nước mắt, những nụ cười sum họp thì không thể phai nhòa. Cô Nguyễn Thị Lan thường rưng rưng nước mắt trong lời phát biểu tất niên. Vẫn nhớ như in buổi họp mười tám năm trước tại nhà hàng Tân Cảng, bên dòng sông Sài Gòn lành lạnh, cô Trần Thị Thủy Anh - người học trò cũ - đã ôm chầm thầy Phan Hồng Lạc mà nức nở : Hai mươi năm cách biệt rồi, thầy ơi ! Vẫn nhớ năm 2008, đêm lửa trại Bình Châu quây quần hàng trăm thầy trò…, bao giọt nước mắt mừng mừng tủi tủi của những nguời học trò - giờ ở lứa tuổi 50 - dâng trào khi gặp lại thầy Trần Kim Quế sau mấy chục năm xa cách. Cảm động biết bao, gần cuối buổi ăn  tối, thầy Trần Thanh Sao cùng vài học trò bị lỡ đường đến trễ. Càng cảm động hơn khi biết thầy Trương Thành Nghĩa đã đón mấy chuyến xe mới đến kịp. Rồi ánh lửa trại bừng lên theo từng lời hô của thầy Đỗ Quang Hạnh: “Trời ta, ta đứng !”; “Đất ta, ta ngồi !”, cùng lời ca tiếng hát điệu hò, bao trò chơi do thầy Tam Nhiều, thầy Quế và một số bạn hướng dẫn, đã làm sống lại một thời đã xa… thật hồn nhiên, hạnh phúc. Vẫn nhớ những chuyến đi do bạn Huỳnh Kỳ Trân, bạn Đặng Thị Kim Liêng tổ chức, những đợt từ thiện do bạn Tô My cùng một số bạn bè lo liệu…

                         Còn có nguời tận phương xa luôn thiết tha nhắn gọi:
             “Hỡi bạn bè mái tóc bạc nhiều chưa
             Xin chầm chậm chờ ngày ta gặp lại.”
             (Thầy Huỳnh Ngọc Diêu)
Mười chín năm rồi, “kể làm sao xiết muôn vàn” kỷ niệm đã hằn sâu trong tâm khảm. Càng hiểu nhiều, càng nhớ nhiều, càng yêu hơn. “Cho nên dù muộn cũng phải đến với nhau”. Chúng ta hãy sum vầy với thầy cô, với bạn bè, để chúc phúc cho mỗi thầy cô thân yêu, cho từng bạn bè thương mến trong mỗi dịp Tết đến xuân về.
Minh họa S.Thống

HỒ CHUNG THỦY  

Lẳng lặng mứt dừa


 Huỳnh Thanh Quang
     
            Dừa nguyên liệu bất ngờ rớt giá nhanh làm cho nông dân âu lo nhưng vào thời điểm này, chính các cơ sở sản xuất mứt dừa đang góp phần kéo giá dừa lên.

            Mứt dừa thời thượng
            Mới 2 giờ sáng vậy mà tôi đã nghe tiếng đập dừa khô làm mứt rộ lên ở cơ sở sản xuất mứt dừa nhãn hiệu Hương Lan (phường 6, TP Bến Tre). Nghe âm thanh vồn vã đó, tôi biết, thế là một năm nữa sắp hết.
Nơi lò  sản xuất mứt dừa Hương Lan thật tất bật. Cả thảy trên 50 người thợ, mỗi tốp thợ đảm trách một công đoạn trong dây chuyền làm mứt. Các thao tác nhịp nhàng, ăn khớp với nhau như từ khâu lột vỏ dừa, đập dừa, cại dừa, gọt dừa da, ngâm cơm dừa, quay cơm dừa ra thành từng dây, sên mứt và cuối cùng là đóng gói. Công việc của nghề truyền thống này nay đã đã nhuốm hình ảnh “công nghiệp hóa”. Trước đây, khi mứt dừa còn sản xuất nhỏ lẻ, chưa có thị trường rộng lớn khắp nước như hiện nay, người ta dùng chiếc dao bào để bào miếng cơm dừa ra thành từng dây, vừa tốn công, vừa chậm. Còn bây giờ, hầu hết các cơ sở sản xuất mứt dừa đều sử dụng máy quay ở khâu bào dừa. Một miếng dừa (nửa trái dừa) đặt vào khuôn máy, máy tự động quay tròn  rồi nguyên miếng dừa đó sẽ cho ra một dây cơm dừa dài chừng 3 mét, liền lạc nhau trước khi đem lên những chiếc thau (hoặc chảo) sên với đường cát để thành mứt dừa. Mứt dừa thành phẩm được đóng gói bằng máy, vô bao bì đẹp, trang nhã…
            Trong sản xuất mứt dừa, công đoạn sên mứt là khâu cực nhất, tinh tế nhất do đó người đứng sên mứt phải có sức lực dẻo dai cộng với kinh nghiệm trong nghề và tất nhiên, thợ sên mứt sẽ là người lảnh tiền cao hơn so với thợ làm các khâu khác. Đứng bên lò sên mứt với cái nóng hầm hập từ lửa than miểng gáo, người thợ sên mứt với hai chiếc đũa bếp lớn, phải quấy mứt cho đều trong thau, thao tác liên tục nhiều giờ. Cứ thau mứt này vừa xuống thì thau khác nhanh chóng được đặt lên lò. Mồ hôi mẹ mồ hôi con không bao giờ dứt trên lưng của người thợ sên mứt. Và họ cũng có đôi mắt nghề rất tinh tường. Qua đôi tay và ánh mắt, họ biết ngay là mứt…đã tới, thế là xuống chảo ngay để tránh mứt bị khét. Còn nếu như sên mứt dừa mà sên chưa tới, sau khi đóng gói, mứt dừa không để lâu được vì mứt sẽ bị…lên dầu.
T đầu năm 2012, bỗng dừa khô rớt giá thê thảm, có lúc chỉ còn 14.000 -15.000 đồng/ chục (12 trái). Dừa nguyên liệu rớt giá làm nông dân âu lo nhưng vào thời điểm này, chính các cơ sở sản xuất mứt dừa đang góp phần kéo giá dừa lên. Giá dừa làm mứt hiện gần 50.000 đồng/ chục.
Năm nay, các cơ sở sản xuất mứt dừa tại Bến Tre tìm thợ làm mứt không khó như những năm trước. Nhiều cơ s, nhà máy sản xuất cơm dừa nạo sấy xuất khẩu tại Bến Tre vốn thu hút nhiều nhân công đang gặp khó khăn trong đầu ra, sản xuất đình đốn nên phần lớn nhân công ngã sang làm mứt dừa.  Mùa Tết, ở các huyện Châu Thành, Mỏ Cày, Giồng Trôm, thành phố Bến Tre đều thấy có lò làm mứt dừa. Mứt dừa dù không làm quanh năm suốt tháng, nhưng vào đợt Tết, tính ra các lò mứt thu hút hàng ngàn lao động, nhờ đó những người lao động nghèo có thu nhập để vui xuân. Nhưng chị Diệp Hồng lộ vẻ băn khoăn: “ Vấn đề là…đầu ra. Mấy năm gần đây mãi lực hàng bánh kẹo nói chung giảm đáng kể, không biết riêng mứt dừa sẽ ra sao?”
            Bay xa hương vị miền Nam
            Giá dừa 50.000 đồng/ chục, đường cát khoảng 15.000 đồng/kg nên nhiều chủ cơ sở sản xuất mứt dừa cho biết, năm nay, mứt sẽ bán ra tại lò giá trên 40.000 đồng/kg. Một chủ sản xuất mứt dừa ở phường 7, TP Bến Tre thổ lộ: “Bây giờ làm mứt dừa thì không bỏ thứ gì. Khi lột trái dừa ra để làm mứt, vỏ dừa sẽ bán cho các cơ sở sản xuất chỉ xơ dừa xuất khẩu. Miểng gáo dừa, ngoài đốt để sên mứt, các lò sản xuất than thiêu kết rất “đói” miểng gáo dừa để đốt thành than. Nước dừa (khi đập dừa ra để làm mứt), trước đây đổ bỏ nhưng giờ người ta thu mua hết để làm thạch dừa hoặc nấu thành nước màu dừa xuất khẩu. Dừa da (vỏ ngoài của phần cơm dừa được gọt ra), là nơi tích tụ nhiều dầu dừa nhất trong một trái dừa, đem phơi, bán cho các cơ sở làm dầu dừa. Và cả “cá kèo” ( phần dừa vụn dư ra từ một miếng cơm dừa làm mứt) đem phơi khô, ép ra dầu dừa rất nhiều…Tóm lại, các cơ sở sản xuất mứt dừa sống được là nhờ thêm mấy thứ đó…”.
Sên mứt - ảnh: PLHH

            Bên cạnh “mứt dừa dây”, những năm gần đây, người Bến Tre còn cho ra đời thêm một sản phẩm mứt dừa khá độc đáo đó là “mứt dừa bún”. Nếu mứt dừa dây làm từ cơm dừa cứng cạy thì mứt dừa bún phải làm từ cơm dừa còn non hơn dừa cứng cạy để có độ dẻo. Chọn cơm dừa xong, người ta đem lên máy xắt ra thành từng cọng như cọng bún rồi đem lên chảo sên thành mứt như sên mứt dừa dây; thêm vào hương liệu như lá dứa, ca cao, cà phê…thế là sẽ có mứt bún mùi lá dứa, mùi ca cao, cà phê…Mứt dừa bún ăn rất thơm ngon, càng ăn càng bắt ghiền. Hiện nay, giá mứt dừa bún luôn gác cạnh hơn mứt dừa dây. Giá mứt dừa bún cao hơn mứt dừa dây nhưng vẫn được thị trường chấp nhận, mứt luôn hút hàng vì mứt dừa bún không thể sản xuất ồ ạt như làm mứt dừa dây. Có điều, giống như mối lo ở chị Diệp Hồng, nhiều nhà sản xuất mứt dừa nói: “Nhiều người cho rằng mứt dừa có “thế đứng” là trong thời bao cấp, lúc thị trường bánh kẹo chưa mở cửa, hàng hóa chưa tràn ngập như hiện nay. Giữa làn sóng bánh kẹo tối tân đang tràn ngập, liệu mứt dừa có còn đứng vững”.
Nhưng tôi tin mứt dừa sẽ sống mãi như sức sống của  bánh tráng, bánh phồng. Bởi vì, cũng như bánh tráng, bánh phồng, mứt dừa là “hồn quê”, là đặc sản của một vùng đất đã thấm sâu trong tâm khãm của mọi người khi xuân về, Tết đến. Chúng ta sẽ thật thiếu vắng nếu trên bàn thờ cúng ông bà ba ngày Tết mà không còn thấy mứt dừa…

Quán cơm chay của ông tiến sĩ

           Bỏ ra nhiều tỉ đồng mở quán cơm chay khang trang, bán thức ăn rất rẻ. Bán cơm không để làm giàu mà làm việc nghĩa.
Ông Lương Văn Tô My - ảnh: PLHH

            Trên miếng đất mặt tiền rộng 2.000 m2 tại 538 C Nguyển Đình Chiểu, phường 8, thành phố Bến Tre, Tiến sĩ Lương Văn Tô My (Bến Tre) mở quán cơm chay lấy tên Nhường Trà. Ở ngôi nhà xây hình bát giác, nơi đón khách vào dùng các món chay, phía trên cao giữa nhà anh treo một khung kính hình chữ nhật, rất trân trọng với bốn chữ vàng: Tôn sư trọng đạo. Điều đặc biệt là quán cơm chay này bán giá rất mềm: Điểm tâm với cơm Dương Châu, bánh ướt, hủ tiếu…giá 6.000 đồng. Cơm trưa, cơm chiều: 7.000 đồng/ phần.
            Từ một đêm kinh hoàng
            Tấm lòng nhân hậu của ông tiến sĩ bán cơm được hun đúc từ chuyện đau thương đã ập đến gia đình ông năm 1967. Ông kể: “Khoảng 11 giờ đêm, khi cả nhà đang ngủ, một trái cà nông 155 li từ căn cứ Bình Đức của Mỹ (Tiền Giang) bắn trúng nhà tôi. Cha, mẹ, người anh thứ ba của tôi và hai người thân trong gia đình chết ngay trên giường ngủ. Tôi và bốn đứa em nhỏ may mắn thoát chết. Lúc đó tôi 12 tuổi, đứa em út mới hai tuổi!...”
            Ngay sau đêm tang tóc đó, ông My cùng bốn người em đến tá túc nhà người cô, ông tiếp tục theo học lớp 7. Có điều, gia đình người cô quá khó khăn, mấy anh em được cưu mang vài tháng thì phải vào sống tại cô nhi viện Bạch Vân (ấp Bình Nguyên, nay là phường 6, TP Bến Tre).
            Suốt thời gian theo học trung học, ban đêm ông My làm thợ nhồi bột làm bánh mì. Từ 4 giờ sáng đến lúc vào lớp, ông đi bán bánh mì ở chợ. Chiều về, phụ bán nước giải khát cho học sinh tại căng tin của trường để được ăn cơm miễn phí.
            Sau khi thi đậu tú tài hai, ông lên Sài Gòn học lấy chứng chỉ dự bị đại học. Thời gian này, để có tiền đi học, hằng tuần ông về Bến Tre lấy kẹo dừa lên bỏ mối ở Chợ Lớn. Có lúc ông đi bán rượu lẻ cho lính Mỹ tại các snack bar ở sài Gòn, lúc lại đi dạy thêm tại trường cai nghiện ma túy Duy Tân.
            Về chuyện bán rượu lẻ cho lính Mỹ, ông giải thích: “Tại các snack bar, khi lính Mỹ say khướt rồi, mình cứ xáp vào đứng kế bên, rót ly rượu nào thì họ sẽ trả ly đó. Bấy giờ, các bà chủ snack bar rất kiêu căng nhưng ngộ thay lại thương cảm hoàn cảnh khó khăn của sinh viên. Các bà ấy cho tụi này cứ tự nhiên vào quán…bán rượu kiếm tiền đi học”. Ông thi đậu vào Đại học Y Dược TP.HCM khóa đầu tiên sau giải phóng và khi tốt nghiệp đại học, ông được giữ lại làm giảng viên của trường, được đi Nhật làm nghiên cứu sinh và lấy bằng tiến sĩ khoa chẩn đoán hình ảnh răng, hàm, mặt tại Nhật Bản.
            Tìm hạnh phúc chứ không để làm giàu
            Ông My tâm sự: “Tôi xem quán chay này là nơi để các thầy cô, bạn bè, học sinh tại tỉnh nhà gặp gỡ, tâm tình, giúp đỡ, hướng dẫn nhau trên các nẻo đường rồi thưởng thức các mon chay vừa rẻ vừa nhiều dinh dưỡng để có sức khỏe tiếp tục cho sự học, cho cuộc mưu sinh khó khăn, vất vả phía trước. Với tôi, để duy trì sức sống lâu dài cho quán, tôi chỉ mong huề vốn hoặc có lời chút đỉnh là được rồi”.
            Hiện nay, từ TP.HCM mỗi tuần ông về quán một lần. Như mọi người phục vụ khác tại đây, ông dọn bàn, mang từng phần cơm cho khách, cho các thầy cô, các bạn học sinh. Với ông, bài học khi mở quán chay này là biết tiết kiệm được đồng tiền từ công việc từ tâm bao giờ cũng khó. Nhưng đó là niềm hạnh phúc mà ông đang có.
                                                                                                                  Phan Lữ Hoàng Hà

                                                                                       ( Báo Pháp Luật TP. HCM, ngày 14-1-2010)