10/09/2014

Cá linh về góp vui buổi chợ

       Sáu Quang

            Chiều chiều mây đen vần vũ, sáng sáng trên sông nước lớn ăm ắp, đậm màu phù sa là thời điểm sắp Tết Trung Thu, mùa so đũa trổ bông, là lúc cá linh từ thượng nguồn sông Cửu Long tràn về các chợ. Con cá linh vừa bơi, vừa lớn như bông lục bình vừa trôi, vừa nở trên sông…

            Giựt mình vì thêm một tuổi
            Sáng nay, đi chợ Ngã Năm, tôi mua thịt heo về xào với dưa cải. Vừa ra khỏi hàng thịt, cô bán cá ngồi đầu hàng bên kia réo tôi:” Ông thầy, có cá linh non. Cá linh non mới về, tươi chong”. Tôi giựt mình. Thì ra dòng đời trôi nhanh quá. Tôi mừng đời mình sắp thêm một tuổi bằng cách mua ngay mớ cá linh.
            Đi chợ về, tôi bước theo sau dì Hai bán nước đá ở gần nhà. Tôi vào chuyện với dì Hai:”Cá linh đầu mùa, ngon lắm. Dì Hai nhanh tay hơn tôi rồi…”. Giọng dì Hai khẽ khàng:”Nửa mớ cá linh tôi kho mẳn, nửa mớ nấu canh chua với bông so đũa…bồi dưỡng cho ổng. Lóng rày ổng chạy xe lôi ế nhệ”.
            Vậy là món thịt xào dưa cải của tôi không còn hấp dẫn. Chiều đến, tôi bày ra món cá linh non chiên giòn, ăn với rau sống, nước mắm chanh, tỏi, ớt mời mấy bạn cùng dùng. Thịt cá linh non ăn giòn rụm, béo ngậy, thanh khiết  vì nó nhờ nhựa sống của phù sa. Một ông bạn khề khà:”Lâu lâu mới…nhậu một lần, nhậu với cá linh non. Bây giờ, cá điêu hồng, rô phi, rô đồng, cá trê, cá lóc…bày bán ngoài chợ đều cá nuôi công nghiệp cả, thịt lạt nhách. Hôm qua, thèm món cá trê vàng nướng, chấm nước mắm gừng, tôi kiếm đỏ con mắt cũng không ra con cá trê vàng trong thiên nhiên. Hôm nay, có con cá “phù sa” này thay thế cá trê cũng được. Thôi…vô”. Một ông bạn khác hỏi:”Ông mua cá linh này bao nhiều tiền một ký lô?”. Tôi thở dài không vì giá cá linh đầu mùa quá mắc:”10.000 đồng/trăm gram, tính ra 100.000 đồng/ký lô- và rằng- Ngày xưa, cá linh là loại cá “bình dân”, phục vụ cho dân lao động nghèo, người ta thường bán mớ chớ đâu có cân ký, từng ly từng tí như giờ. Hiện nay, so với thịt heo 80.000 đồng/ký lô, ăn cá linh là…sang rồi”. Ông bạn cười cười:”…Tới rau dại vậy mà người ta cũng  cân từng trăm-cà-gram để bán!”.
            Nói ăn cá linh sang chớ không sang nhưng tính ra thưởng thức nó ngon, bổ, rẻ, rất hợp tình, hợp lẽ với dân lao động. Chẳng là, cá linh làm được nhiều món, cá nhiều con, ăn chậm chậm cũng lâu hết, ăn cơm cũng ngon, lai rai… cũng bắt và người ta sẽ nhớ nhiều vì đó là dấu ấn trong năm, báo hiệu mùa gió chướng non đã về, người đời sắp thêm một tuổi.
            Tôi chạy ra chợ đầu mối thành phố Bến Tre, phía bên kia chân cầu Cá Lóc. Anh Đinh Minh Đức, một chủ vựa thu mau cá tại đây cho biết:”Mùa này(gần Tết Trung Thu), chợ đông vui, rộn rịp vì có thêm con cá linh về. Hàng đêm, lúc khoảng 2 giờ khuya, các ghe lồng chở cá linh từ miệt trên(An Giang, Châu Đốc, Đồng Tháp) về cặp bến tại đây. Thường thì chủ vựa mua mảo hết một ghe cá linh rồi chia ra cho các mối nhỏ. Sáng lại, cá linh đầu mùa có mặt gần khắp hết các chợ nông thôn Bến Tre. Đến các chợ tại vùng nước mặn như Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đài cũng xuất hiện con cá sống vùng nước ngọt này. Có thể nói, con cá linh có…sức thu hút lớn với mọi người”.
            Cá linh về góp vui buổi chợ dù là chợ chiều. Hoạt cảnh sinh động này sẽ kéo dài đến gần tết Nguyên đán, lúc cá linh non trở thành…”ông già”, thịt cá đã lạt, xương xóc. Ngoài ra, trúng mùa cá linh là niềm mơ ước của diêm dân vì một lượng muối khổng lồ sẽ chạy vào các lò làm mắm tại An Giang, Châu Đốc…


Xin được sống chung với lũ…
Năm nào lũ cao, kéo dài, cá linh xuất hiện càng nhiều và ngược lại. Từ cơn lũ lớn năm 2000 đến nay, những mùa lũ sau này xuất hiện tại ĐBSCL với mức nước thấp, không kéo dài. Ông Tám Ớt(do trồng ớt nổi tiếng) ở vùng trũng Đồng Tháp Mười(Thạnh Hóa, Long An) bộc bạch:”Tại đây, năm nào lũ thấp, người ta cứ đi long nhong ngoài đồng, mọi thứ đều héo hắt. Còn ngược lại, hạt phù sa dồn dập đổ về mọi thứ trở nên tươi chong, cảnh sống thật sinh động nhất là những chỗ bán ghe xuồng, ngư cụ bắt tôm cá. Không biết mùa lũ năm con ngựa này sẽ ra sao?”.
Nghe ông Tám nói, tôi thật sự băn khoăn khi nhớ đến những đoạn ghi chép trong sổ tay của mình:
…Sông Mê Công là một trong mười con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng có chiều dài hơn 4.800 km, diện tích lưu vực 795.000 km2, lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm khoảng 15.000 m3/s và tổng lượng dòng chảy hàng năm 475 tỷ  m3 tại châu thổ, chảy qua lãnh thổ của 6 quốc gia là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Hiện nay, có 8 công trình thủy điện chính trên sông Lan Thương(Vân Nam, Trung Quốc) đã và đang xây dựng gồm:Đập thủy điện Cống Quả Kiều cao 105 m, đập thủy điện Tiểu Loan (Xiaowan) cao 292 m, đập Tam Hiệp “khổng lồ”, đập Mãn Loan (Man Wan) cao 132 m, đập Đại Triều Sơn (Dachaoshan)cao 118 m, đập Cảnh Hồng (Jinghong)  cao 108 m.  Ngoài ra, còn 3 đập khác đang trong quá trình xây dựng là Nọa Trát Độ (Nouzhadu), đập Cảm Lâm và đập Mãnh Tống nằm ở đoạn hạ lưu sông Lan Thương. Tại Lào, đã có kế hoạch nghiên cứu xây dựng 23 đập thủy điện, trong đó có đập Ban Koun công suất lớn nhất khoảng 2000 MW. Thái Lan ngoài 2 con đập Sakamen 1 và 3, đã có kế hoạch tái khởi động xây dựng các  đập trên sông Mê Công dự kiến công suất 4.000 MW. Phía Campuchia cũng nghiên cứu 2 đập thủy điện là  Sambor và Stung Treng có công suất khoảng 3.600 MW…
           Được biết, hiện nay, những người phản đối xây đập thủy điện, ngày càng gia tăng, lên án mạnh mẽ đập thủy điện vì nó sẽ làm ngập đất, rừng, dân cư phải di dời, làm thay đổi chế độ dòng chảy, và môi trường sinh thái. Các đập thủy điện ở Trung Quốc và các hồ chứa ở Thaí Lan, Lào và Campuchia sẽ làm chậm tốc độ dòng chảy thiên nhiên của sông, làm bồi lắng một lượng phù sa lớn tại hồ, thay đổi động lực dòng chảy gây xói lở các đoạn sông hạ lưu, đập chắn đường đi cho chu trình sinh sản đồng thời cũng làm thay đổi chế độ phù du, dinh dưỡng sông ảnh hưởng đến chu trình sinh sản và sinh trưởng của các loài cá, tác động đến sinh kế của người dân ven sống vùng hạ lưu ĐBSCL.

Có nghĩa là trong tương lai không xa, con cá linh sẽ mất chốn nương thân, không còn góp vui với các buổi chợ!

Cá linh đầu mùa.

21/08/2014

Kiểng treo đi xa...


         Phan Lữ Hoàng Hà

Xứ Cái Mơn(Vĩnh Thành) hiện có trên 200 điểm lớn nhỏ sản xuất kiểng treo. Anh Cao Văn Nhung ở ấp Vĩnh Bắc là một trong những nghệ nhân tiên phong tại quê nhà lao vào mặt hàng kiểng treo thời thượng này.

            Thì ra…Thái Lan
            Cách đây chừng 8 năm, một hôm, anh Cao Văn Nhung rủ người em trai Cao Văn Huệ cùng ngụ tại ấp Vĩnh Bắc(xã Vĩnh Thành(Cái Mơn), huyện Chợ Lách, Bến Tre) đi tham quan điểm bán hoa kiểng của ông Tâm tại Sóng Thần(Bình Dương). Điểm bán hoa kiểng của ông Tâm thật phong phú, đa chủng loại, trong đó ông trưng bày rất nhiều các loại kiểng treo được nhập về từ Thái Lan, Đài Loan, loại nào trông cũng ngộ nghĩnh, lạ và đẹp mắt vì vậy tiếng đồn “vua hoa kiểng thời thượng” bay xa.
            Khi đến điểm bán hoa kiểng của ông Tâm, bên tai anh Nhung vẫn còn đọng lại câu hỏi của người thân từng đi du lịch Thái Lan:”Bên đó kiểng treo nhiều lắm, rất thịnh hành. Kiểng treo đẹp, lạ mắt nhưng giá cả phải chăng. Người ta “chơi” kiểng treo ở phòng khách, ngoài mái hiên, vòm nhà…, nói chung, đó là không gian chỉ thích hợp cho…hoa mủ. Cái Mơn là xứ sở nổi tiếng về nhân ghép cây giống sao mấy ông không tìm cách làm ra kiểng treo, bán cho cả nước?”.
            Chỉ tay vào một giò kiểng treo, anh Nhung hỏi ông Tâm:”Tên gọi của loại này là gì?”. Ông Tâm: “Son môi, gốc Thái Lan”. Anh Nhung:”Bao nhiêu một giò?” Ông Tâm:”120.000 đồng…”. Anh Nhung liền mua một cặp kiểng treo son môi, còn anh Huệ mua một cặp kiểng treo lan tim cũng xuất xứ từ Thái Lan rồi chào tạm biệt ông Tâm.
            Trở về quê nhà(ấp Vĩnh Bắc), trong âm thầm lặng lẽ, anh Nhung miệt mài nhân giống kiểng treo son môi và khoảng 8 tháng sau đó, anh Nhung đã sở hữu vườn kiểng treo son môi với hàng trăm giò đã có thể xuất bán.  Không lâu sau, anh Nhung lại tìm đến ông Tâm mua thêm nhiều loại giống mới. Trước ông Tâm, anh Nhung xởi lởi:”Chừng nào ông chủ có rảnh, mời ông xuống nhà tụi tôi chơi…” Ông Tâm vui vẻ nhận lời, nói:”Chúng tôi sẵn sàng mời các anh đi Thái Lan một chuyến để xem kiểng treo ở bên đó. Kiểng treo của họ đã đi trước mình một bước xa rồi”.

Vườn kiểng treo của anh Cao Văn Nhung

            Diều gặp gió
            Lần đầu tiên ông Tâm gặp anh Nhung ở Vĩnh Bắc, ông Tâm mở lời ngay:”Hồi gặp anh lần đầu tiên, tôi…nghi nghi là người ở Cái Mơn-xứ sở nổi tiếng làm giống cây kiểng mà tôi chưa có dịp đến”. Chỉ tay vào giàn kiểng treo son môi hàng trăm giò treo lủng lẳng trước sân nhà, giọng anh Nhung từ tốn:”Giống từ…Sóng Thần đó…”. Ông Tâm trầm trồ:”Tuyệt quá. Mấy anh tài quá. Danh bất hư truyền”.
            Trên sân vườn rộng khoảng 5 công đất(5.000m2), ngoài kiểng lá, mai vạn phúc, anh Nhung dựng lên nhiều khu kiểng treo, mỗi khu chừng một ngàn giò, nhỏ có, vừa lớn có, sắp bán có. Về kiểng treo son môi, anh Nhung có 7 loại son môi rồi hạt dưa(2 loại), lan tim(màu xanh, cẩm thạch), đô la, cá đỏ, cá vàng…mà theo anh Huệ cho biết hàng năm, anh Nhung cho “ra lò” trên 20.000 giò kiểng treo các loại. Tôi hỏi chị Oanh, vợ anh Nhung:”Giò son môi có đường kính một gang tay này bao nhiêu tiền?” Chị Oanh:”Bán nhiều 38.000 đồng/giò, bán ít 40.000 đồng/giò – và chị cho biết thêm – Cách đây khoảng 2 năm, hoa dừa cạn(một loại kiểng treo gốc nội đia) lên ngôi, làm các loại kiểng treo khác xính vính nhưng rồi hoa dừa cạn mau tàn úa nên người ta không còn thích nó nữa. Bởi vậy, son môi, lan tim, đô la…mới giữ vững ngôi vua. Các loại kiểng treo sản xuất tại Cái Mơn nói chung bán quanh năm suốt tháng, dịp tết thì nhiều hơn, thị trường tiêu thụ khắp nước, nhiều nhất tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Mua một giò kiểng treo để phòng khách, nếu chăm sóc kỹ lưỡng, tuổi thọ của nó ngoài năm. Tôi thầm khen: Giá trước đây từ 100-120.000 đồng/giò kiểng treo son môi nhưng qua tay các nghệ nhân xứ Cái Mơn, họ hô biến… chỉ còn 38.000 đồng/giò tại gốc.
            Phòng khám răng của anh Cao Văn Huệ đối diện với vườn kiểng treo của anh Nhung. Hàng ngày, ngoài việc khám răng cho khách hàng, anh Huệ nhính thời gian chăm sóc vườn kiểng treo khiêm tốn của mình. Vườn kiểng treo bên hông nhà anh Huệ chừng 70 m2, treo khoảng 200 giò kiểng treo son môi nhưng anh Huệ cho biết mỗi năm anh kiếm thêm vài chục triệu đồng. Anh Huệ nói:”Ví như kiểng lá phát tài là giống của Đài Loan. Ở Đài Loan, người ta nhân giống cây phát tài rất hạn chế vì phải tách ra từng cây con rồi cặm xuống đất nhưng khi gống này đến xứ Cái Mơn(Vĩnh Thành), bằng phương pháp cắt ra từng nhánh, cặm xuống đất nên số lượng nhân giống rất nhanh và nhiều”. Quả vậy, so với cả nước, xứ Cái Mơn là vùng đất lý tưởng cho ươm ghép cây giống, cây kiểng. Đây là vùng đất mà người ta ví von là…”của trời cho”.
            Anh Nhung bật mí cách nhân giống kiểng treo:Từ giò kiểng treo đã mua, anh cắt ra từng mắt lá rồi chấm vào thuốc kích thích, tăng trưởng rể cây, cặm vô giò nhiều mắt lá. Trong giò nhân giống là mùn dừa trộn với trấu. Đặc biệt, để tạo độ ẩm cho môi trường nhân giống, anh dùng bao ny long trùm kín trên giò(không cho không khí lọt vào) chừng 20 ngày đến một tháng mới mở ra. Sau khi mở bao ny long ra, anh bắt đầu cho kiểng treo ăn phân. Phân bón này của Đài Loan, hột màu đen, rắn, 120.000 đồng/kg, nó “ép phê” đến 6 tháng. Một giò kiểng treo “nuôi” khoảng 8 tháng, các dây kiểng ra lá sum suê, lần lượt đươm hoa, trông rất đẹp mắt.
            Những năm gần đây, vào dịp hè, các sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh thường đến vườn kiểng treo của anh Nhung tìm hiểu, thực tập. Hàng ngày, anh Nhung chỉ cho các sinh viên cách nhân giống kiểng treo rồi bắt các sinh viên thực hành. Hóa ra nơi này ngoài tạo cho anh Nhung có nguồn thu nhập cao, vườn kiểng treo của anh còn là môi trường lý tưởng để các sinh viên thực tập, thu lượm kinh nghiệm thực tiễn.

            Cái Mơn có số dân trên 10.000 người nhưng tại đây có trên 90% số hộ nào giờ chuyên sống với nghề nhân cây giống, làm cây kiểng. Trải qua sức sống của làng nghề này, từng giai đoạn, các nghệ nhân tại đây cho ra đời nhiều sản phẩm cây kiểng phong phú, độc đáo như cây kiểng cau đỏ, kiểng thú các loại từ nguyên liệu cây cằn thăng, cườm rượm, kiểng phát tài, vạn niên tùng, thủy tùng(long giáng), “mai vàng mini”, kiểng xanh(qui mô lớn) từ nguyên liệu cây si, cây sanh…và những năm gần đây là kiểng treo với vô số loại. Trong tương lai không xa, tôi chắc chắn làng nghề này sẽ còn cho ra đời nhiều sản phẩm cây kiểng mới lạ, độc đáo. Để xem…/

Kiểng treo son môi.

Sâu thẳm dầu dừa

            Huỳnh Nguyên Khang

Dầu dừa là một dược phẩm từ thiên nhiên, rất hữu hiệu trong làm đẹp cho phái nữ. Từ thời xa xưa, phái nữ sử dụng dầu dừa để giúp tóc bóng mượt, làn da mềm mại, làm phai mờ các vết rạn da, chống lão hóa, chăm sóc và bảo vệ làn da trước các tổn thương. Vì vậy hiện nay rất nhiều người tìm mua cho được dầu dừa tinh chất sản xuất tại Bến Tre.

            Dầu dừa thời thượng…

Dầu dừa nguyên chất Thành Vinh

 

Lúc ngồi uống cà phê sáng tại TP HCM, ông bạn tôi gởi tôi 500.000 đồng rồi nói:” Về Bến Tre mua dùm tôi dầu dừa, loại dung tích 500 ml nhưng dầu phải màu trắng nghen. Khi nào lên đây, đem lên…”Tôi hỏi:”Để làm gì? Lúc này bạn…ăn chay rồi à?”. Đưa cánh tay cho tôi xem, ông bạn tiếp lời:” Da tay tôi bị trổ “đồi mồi”, thoa dầu dừa nay đã lặn nhiều lắm. Dầu dừa dưỡng da rất tốt”. Một người thân của tôi sống nghề xay bột(bột khô, bột ướt) tại quận 3, TP HCM. Thấy chị đang xay gạo trắng trộn với gạo lứt cho mối, tôi hỏi:”Xay bột gạo này để người ta làm thức uống hay làm bánh?”. Chị cười:” Xay bột gạo khô cho mấy tiệm massage. Với bột gạo xay nhuyễn này, mấy nơi làm massage pha thêm dầu vào, đắp lên da cho khách hàng. Nghe nói, sau nhiều lần đắp, da sẽ mịn màn lắm…”
            Ngày xưa, dầu dừa là nguyên liệu chính để sản xuất xà bông(cây) như nhãn hiệu xà bông nổi tiếng Ba cây dừa Nam Hưng, xà bông Cô Ba...Ngày ấy, dân đi làm ruộng bị thúi móng chân, người ta lấy dầu dừa đổ vào cái chu cau, hơ lửa, dầu dừa vừa sôi lên thì đổ vào móng chân rất hiệu quả. Lấy dầu dừa pha vào với trái mù u đốt thành than rồi mài ra sứt ghẻ mau lành. Theo thời gian, người ta phát hiện dầu dừa là một dược phẩm tuyệt vời vì dầu dừa có nhiều acid béo,Vitamin E, cung cấp protein, giúp dưỡng da, chữa rạn da, tái tạo da, rụng tóc, tóc khô... Ngoài ra, dầu dừa diệt vi khẩu streptococus(sâu răng) rất hiệu quả. Người nào nếu có sâu răng, người ta khuyên nên ngậm dầu dừa.
            Xuất hiện trên thị trường hiện nay có nhiều nhãn hiệu dầu dừa nhưng tựu trung dầu dừa chỉ có hai màu:màu vàng nhạt và trắng như màu nước mưa. Dầu dừa màu vàng nhạt dùng vào chế biến thực phẩm. Dầu dừa màu trắng, người ta tin tưởng hơn khi dùng làm mỹ phẩm, dưỡng da, dưỡng tóc, răng. Tại chợ phường 3, TP Bến Tre, những điểm bán dầu dừa như nhãn hiệu Thiên Ân, người sản xuất làm tại chỗ gồm xay cơm dừa, vắt nước cốt dừa và thắng dầu dừa. Chị chủ Thiên Ân nói:”Làm như vậy để cho khách hàng thấy…thiên nhiên tinh khiết đang bày ra trước mặt, chứ cũng là dầu dừa nhưng vàng thau lẫn lộn, khó ai biết chất lượng”. Tại đây, dầu dừa Thiên Ân màu vàng nhạt, bán ra 55.000 đồng/chai nhựa(500ml). Người ta thường mua để sứt tóc…
            Tôi ghé vào cửa hàng Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới(297A2, đại lộ Đồng Khởi, phường Phú Tân, TP Bến Tre(ĐT:0753820555), đối diện Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy). Cô chủ cửa hàng cho biết dầu dừa nguyên chất tại đây sản xuất tại Khu công nghiệp An Hiệp(Châu Thành), phương pháp công nghiệp, ép lạnh rồi lọc dầu ra. Hai nhãn hiệu dầu dừa nguyên chất, nước dầu màu trắng nổi bật tại đây là Thành Vinh và Vietcoco. Thành Vinh loại 500 ml bán ra 70.000 đồng/chai, 1000 ml 120.000 đồng/chai. Vietcoco loại bình có vòi xịt 500 ml 100.000 đồng/bình, loại bình 250 ml 55.000 đồng/bình. Thời gian gần đây, dầu dừa bán rất chạy…
           
            Nâng cao giá trị trái dừa
            Với trên 50.000 hecta, tổng sản lượng trên 350 triệu trái/năm, Bến Tre có diện tích vườn dừa lớn nhất Việt Nam và không địa phương nào trong cả nước sánh được chất lượng của dừa trồng trên đất cù lao Bến Tre. Có điều, từ hàng chục năm qua, giá cả trái dừa thật thăng trầm, lên giá, xuống giá bất thường. Để nông dân an tâm chăm sóc mảnh vườn dừa của mình, điều tiên quyết là giá trị đầu ra của trái dừa phải ổn định, nông dân sống được với vườn dừa. Ông Lê Nhứt Thống, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty BTCO-chuyên sản xuất cơm dừa nạo sấy xuất khẩu tại phường 8, TP Bến Tre-cho biết:”Ngoài chuyện xuất thô dừa khô sang Trung Quốc, tại Bến Tre, chủ lực cho đầu ra của trái dừa hiện nay là ngành sản xuất cơm dừa nạo sấy. Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường thế giới hiện nay cộng thêm với những mặt hạn chế của các nhà máy, cơ sở sản xuất cơm dừa nạo sấy tại Bến Tre, lợi nhuận đem về từ sản phẩm này không nhiều, thành ra không nâng lên được giá dừa một cách ổn định. Nhiều nhà máy không cạnh tranh nổi trong thu mua nguyên liệu dừa khô”. Thông thường, có tàu vào Bến Tre mua dừa khô xuất khẩu thì giá dừa liền nhích lên bất kể đang vào mùa dừa treo hay thuận.

            Từ giá trị sâu thẳm của dầu dừa(mà có khi người địa phương xem thường), cho nên việc quảng bá, khuếch trương dầu dừa Bến Tre là một trong những hứa hẹn giúp nâng cao giá trị trái dừa bền vững.

Xay cơm dừa để thắng dầu dừa.

18/08/2014

Thầy Bùi Thanh Kiên thâu đêm với quyển Từ điển Tiếng Việt Nam bộ do thầy biên soạn.

            Thầy Bùi Thanh Kiên
        Miệt mài từng con chữ, nét thêu

            Sáu Quang

            Thầy Bùi Thanh Kiên nay 75 tuổi, ngụ trong một com hẻm của đường Lê Văn Phan, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Mình.
            Một sáng giữa tháng 8-2014, tôi và bạn Lưu Huỳnh Thống sang thăm thầy Kiên. Từ chợ Vườn Chuối(quận 3) sang thầy, xe Honda chạy khoảng nửa giờ đồng hồ, xe qua những phố phường khang trang, nhà cửa san sát, người và xe tấp nập, rất dễ kẹt xe. Bạn Lưu Huỳnh Thống chạy xe thật tài tình, bạn chạy một mạch đã đưa tôi đến ngay nhà thầy Kiên.
            Thấy hai đứa tôi đến thăm, thầy nhận ra liền, kêu rõ từng tên. Thầy Kiên bây giờ hơi mập hơn xưa. Trong bất chợt, tôi nhận ra ngay trong tâm trí mình hình ảnh về thầy Kiên cách đây trên 40 năm. Lúc đó, thầy dạy môn Việt văn tại Trường Trung học công lập Kiến Hòa, thầy chạy chiếc mobylette màu xanh dương, dáng người không mập không ốm nhưng bước đi năng động, rụp rụp, thỉnh thoảng đôi mắt thầy rất nghiêm trước khi giảng bài. Thầy thường hút thuốc lá Capstan trắng không đầu lọc. Có lẽ lúc đó thầy hút thuốc hơi nhiều vì tôi thường thấy thầy thả khói liên tục những lúc ra chơi. Sở dĩ hôm nay nhắc chuyện hút thuốc của thầy vì nhiều năm qua thầy đã bỏ hút thuốc rồi, thầy đang bệnh suyễn, trong túi áo luôn bỏ theo một ống xịt thuốc…trợ thở.
            Ra quán cà phê đầu hẻm, thầy hỏi:
-          Hai em uống gì, cà phê, nước ngọt?
Thầy kêu cho thầy ly cà phê đá.
Trong khi chờ quán đem thức uống ra, tôi và bạn Thống mở ra gói thuốc lá ra, cài lên môi điếu, tôi nói:
-          Thưa thầy, em vô tình ném viên…đá nhọn vào quá khứ của thầy.
Thầy xua tay:
-          Không sao đâu. Thầy đã bỏ được thuốc lá rồi, hai em cứ tự nhiên…
Trong tâm tình giữa thầy-trò lâu ngày gặp nhau, thầy rất chân tình, cởi mở, gần gũi, không nghiêm nghị, đạo mạo. Bỗng thầy nhớ lại, nói:
-   Hồi mấy đứa học trung học, thầy nhớ lúc đó là lớp 11 thì phải, dịp xuân về tết đến, mấy đứa có tặng cho thầy quyển báo xuân lấy tên Dáng mai- thầy Kiên nhấn mạnh: “Dáng mai” thì đâu có đại diện chung cho cả lớp vì lớp mấy đứa nam nữ hỗn hợp mà!...
Hai đứa tôi bật cười. Thì ra thầy nói láy chữ Dáng mai. Cái này thiệt là đúng vì nó đâu có dính dáng gì phía nữ sinh…Cười chút.
Từ nhiều năm qua và hiện nay thầy miệt mài cho quyển Từ điển Tiếng Việt Nam bộ do thầy biên soạn, sắp in ấn. Thầy nói bản thảo quyển từ điển này gồm 4 tập, dày 1.900 trang với khá đầy đủ thuật ngữ Nam bộ. Nay biên soạn, gút lại chắc cũng còn 1.500 trang. Tôi hình dung ra được và hiểu: Đây là một công trình đồ sộ, thầy đã tâm huyết, dồn hết sức lực, có thể nói là cả cuộc đời của thầy cho quyển từ điển này. Lại càng vui hơn khi tôi được biết để vun bồi cho “công trình” này còn có sự hỗ trợ nhiệt thành của bạn Lương Văn Tô My và các bạn của Hội quán Nhường Trà, cơ quan Phát hành sách…Tất cả đều mong mỏi quyển từ điển “một đời người” của thầy Bùi Thanh Kiên sớm ra mắt bạn đọc.
Bên cạnh, thầy Kiên còn cho biết từ giữa tháng 6-2014, tự tay thầy đã thêu bức tranh có mấy chú ngựa dài 1,2 mét, rộng 70 cm để tặng cho Hội quán Nhường Trà vào dịp tết 2015, kết thúc năm Giáp Ngọ. “Công trình” do thầy mày mò này chắc kéo dài ít tháng nữa…Tôi hỏi thầy Kiên:
-          Về đêm, thầy có ngủ được nhiều không?
            -     Rị mọ với quyển từ điển suốt ngày, có hôm đến 12 giờ khuya chưa ngủ. Chừng vô ngủ, cứ nằm thao thức, trằn trọc cho tới sáng…
Nhưng tôi thấy ánh mắt thầy sáng trưng khi thầy nói:

-     Cố gắng sống sao cho có ích. Gần cuối cuộc đời nhưng thầy vẫn làm việc, tìm việc mà làm với mong mỏi để lại đời sau những điều bổ ích. Và hiện tại, đó cũng là niềm vui của tuổi già…/

Tranh ngựa do thầy Kiên thêu.

02/08/2014


Gặp lại nhé…giữa Sài Gòn


            Một sáng cuối tháng 7-2014, Sáu Quang(Huỳnh Thanh Quang) và bạn Lưu Huỳnh Thống phóng xe ra quán cà phê Gió Bắc, cạnh hồ Con Rùa(quận 3, TP HCM), ngồi uống cà phê. Nhà văn Vũ Hồng đã đến trước đó chừng 5 phút, hút thuốc chờ. Có khoảng trên 20 năm Sáu Quang mới trở lại chốn xôn xao này, còn Lưu Huỳnh Thống thì năm sau(2015) đã về hưu rồi. Hiện nay, lúc gần 11 giờ, Lưu Huỳnh Thống phải chạy riết về nhà ở gần Ngã Bảy để lo cơm trưa cho đứa cháu nội mới 3 tuổi…Già mau quá. Thời gian như…bóng câu qua khung cửa. Trước khi đến quán lẩu cá kèo Sóc Trăng(đối diện chùa Xá Lợi) làm lai rai vài ly chơi, nhà văn Vũ Hồng tranh thủ…sản xuất tấm hình kỷ niệm này.

Sáu Quang(trái) và Lưu Huỳnh Thống.

25/07/2014

Cô giáo cũ

Nguyễn An Cư

Đã hơn mười phút trôi qua, Liên vẫn chưa dám gõ cửa nhà cô giáo cũ! Thật ra không phải chỉ mười phút mà đã mười năm rồi. Cái ý định nầy thôi thúc Liên từ thời học lớp sáu; đến nay thì Liên đã tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm, sắp sửa nối nghiệp cô Trâm, cô chủ nhiệm của Liên thời đó.
Mười năm rồi - khi cô Trâm còn ở chung thị xã với Liên- cứ mỗi lần thập thò đến nhà cô Trâm, Liên lại quày quã trở về, viện lý do nầy lý do khác để tự khất dần!
Cuối cùng Liên cũng thu hết can đảm gõ nhè nhẹ cửa nhà cô giáo cũ. Liên nghĩ, nếu lần nầy không gặp cô Trâm để nói hết sự thật thì sắp tới không làm sao Liên an lòng đứng trên bục giảng.
Nghe tiếng gõ cửa, cô Trâm vội vã ra mở. Cô ngỡ ngàng khựng lại khi thấy Liên rồi vụt hỏi tới tấp:
- Ý! Liên hả? Trời ơi! Lâu quá mới gặp! Vào nhà đi em. Sắp đi dạy rồi phải hôn?
Liên thở phào nhẹ nhõm. Thế là trình tự và nội dung trong “giáo án” cho cuộc hội ngộ với cô Trâm mà Liên đã “soạn” trong mười năm qua đảo lộn hoàn toàn!
Liên nghĩ là khi gặp cô Trâm, chắc chắn cô không nhớ Liên đâu. Làm sao nhớ được hàng ngàn học sinh qua mười mấy năm giảng dạy? Chắc chắn là cô Trâm sẽ hỏi em tên gì, ở đâu, học với cô năm nào? Rồi cô sẽ khẽ nhíu mày cố moi ra trong trí nhớ. Khi ấy, Liên sẽ nhắc rằng năm ấy có một học sinh làm lớp trưởng lớp sáu do cô chủ nhiệm, tính tình rất trầm lặng, tóc thường buộc thành hai bím bằng hai sợi vải tím, ngồi ở đầu bàn chót dãy bên trái. Có thể là cô cũng chưa nhớ ra Liên. Cô sẽ tiếp tục nhíu mày hoặc may lắm là khẽ gật đầu, ờ ờ lên mấy tiếng…


Liên đâu có ngờ, không những cô Trâm nhớ tên mà lại còn nhớ rõ từng đặc điểm của Liên ngày xưa và hoàn cảnh bây giờ! Liên rơi vào tình huống trái ngược trong “giáo án” đã chuẩn bị trước nên đành im lặng ngồi nghe!
Cô Trâm líu lo kể:
- Hồi đó em chỉ mặc có một cái áo dài trắng phải hôn? Em mang cái cặp da sứt mất một khóa phải hôn? Ờ cái nốt ruồi nhỏ dưới càm, em phá hồi nào?...
Vừa hỏi, cô Trâm vừa nâng mặt Liên ngắm nghía như Liên chỉ là một cô học trò nhỏ!
Rồi giọng cô Trâm chùng xuống:
- Hồi đó, nghe tin em đậu vào Trường Đại học Y khoa Thành phố Hồ Chí Minh cô mừng lắm. Đến chừng nghe em không có tiền học đành phải về Trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh nhà, cô buồn vô hạn! Thật lòng mà nói, hồi đó cô định gởi tiền bảo trợ cho em học đại học, bởi cô biết em có chí và học giỏi. Bất ngờ ba cô bệnh nặng rồi qua đời, gia đình túng quẩn, lương giáo viên ít ỏi, cô đành bỏ ý định của mình!...
Liên nghe cô Trâm kể mà đôi mắt đỏ hoe tự lúc nào!
Cô Trâm hỏi Liên từ chuyện gia đình đến chuyện học hành vừa qua và sự chuẩn bị cho công tác sắp tới. Giống hệt cái năm lớp sáu, lần đầu tiên Liên đến nhà thăm cô Trâm một mình. Liên cũng chỉ ngồi rụt rè khép nép trả lời từng câu hỏi của cô giáo và nhỏ nhẻ nhai từng viên kẹo cô lần lượt đưa cho!
Thấy Liên mấy lần xò xè mở cặp ra như định lấy một vật gì rồi lại ngập ngừng đóng cặp lại và ấp úng mãi, cô Trâm nhìn thật sâu vào mắt Liên hỏi:
- Em định tặng cô món gì hay định nhờ cô chuyện gì vậy Liên? Hay là soạn giáo án gặp khó khăn phải hôn?
Đúng là “giáo án” của Liên đang có vấn đề! Liên đang đứng trước tình huống đã chuẩn bị rất kỹ trong giáo án nhưng vẫn không trình bày được!
Liên nhìn cô giáo thật lâu. Hơn bốn mươi tuổi mà cô vẫn nhanh nhẹn hoạt bát như ngày Liên học cô năm lớp sáu. Cô nói cười giòn giã, lôi đủ thứ bánh kẹo, trái cây trong tủ lạnh ra ép Liên ăn như Liên còn là đứa học trò nhỏ rụt rè. Có điều da mặt của cô đã có nhiều nếp nhăn.
Liên trệu trạo nhai mấy viên kẹo cô Trâm đưa mà miệng đắng nghét, mặt đăm đăm, bụng rối bời. Liên hết nhìn cô giáo lại im lặng cúi mặt xuống bàn không biết bắt đầu câu chuyện muốn kể ra sao! Đến chừng nghe cô Trâm nhắc lại “Em định nhờ cô chuyện gì phải hôn” Liên mới ấp úng thưa:
- Thưa cô, không! Em không định nhờ cô chuyện gì cả. Em muốn… thú thật với cô… chuyện xấu hổ ngày xưa.
Cô Trâm đứng dậy vỗ vai Liên cười giòn:
- Ồ! Chuyện gì mà quan trọng vậy Liên? Thôi. Đừng kể gì cả. Cô còn biết trước sau gì cũng có ngày hôm nay, phải không Liên? Người trung thực không thể nào chịu nổi sự cắn rứt của lương tâm.
Liên giật thót người! Vậy là cô Trâm đã biết? Thảo nào…
*
                                         *             *
Năm ấy Liên học lớp sáu Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu. Nhà Liên đông anh em và nghèo lắm. Nghèo đến nỗi ba má Liên không sắm cho Liên được cây viết máy đàng hoàng như các bạn! Thời đó, một cây viết máy hiệu Pilot như các bạn Liên xài trị giá gần năm bảy ngày công bốc vác của ba Liên. Lòng ham muốn đã thôi thúc Liên thành kẻ tham lam! Xấu xa nhất lại là tham lam của cô giáo mình!
Tiết giảng văn hôm ấy cô Trâm mải mê giảng đã lấn sang giờ chơi mấy phút. Cô vội vã xếp sách vở rời khỏi lớp, bỏ quên lại cây viết thật đẹp. Liên là lớp trưởng lên thu dọn bàn giáo viên và nhặt được. Về phòng giáo viên, cô Trâm mới phát hiện mình bỏ quên cây viết ở lớp sáu vừa dạy. Vào học, cô trở vào lớp hỏi thăm. Không có em nào nhặt được…
Cô Trâm buồn lắm. Cây viết đối với cô không đáng giá gì. Chỉ buồn vì biết chắc học trò mình nhặt được nhưng chúng không cho lại. Lý do nữa, cây viết nầy của Quân –người yêu cô- đã mua và tự khắc tên hai người để tặng lúc cô ra trường. Tính Quân, Trâm biết quá rõ, yêu thì cuồng nhiệt đến độ mù quáng! Ai đời gần tới ngày thi tốt nghiệp mà lại cặm cụi hai ba ngày để khắc viết tặng người yêu? Ngược lại tự ái của Quân cũng cao bằng núi! Lại khắt khe và độc đoán nữa. Trâm mà sơ ý không quan tâm đến Quân một chút là chàng giận hờn! Để mất quà kỷ niệm là xem thường tình yêu của Quân; lôi thôi lắm chớ không đơn giản!
Trong lúc cả lớp nhao nhao lên tiếng “Xét cô! Xét cô” thì Liên đang chết điếng trong lòng. Mặt Liên tái dần, đến nỗi nếu cắt chắc không còn một giọt máu. Trâm đảo mắt nhìn đám học trò, chợt chú ý đến sắc mặt bất bình thường của Liên –cô trưởng lớp mà Trâm tin cậy- Thôi, đúng là Liên rồi! Liên làm trưởng lớp mới dọn dẹp bàn giáo viên…
Trâm tưởng tượng đến sự giận dỗi của Quân sắp tới, toan bước xuống hỏi Liên cho ra lẽ. Nhìn nét mặt xanh như tàu lá của Liên, cô đã ngăn được bước chân mình. Mặc. Nếu Quân có giận dỗi thì đành chịu! Mình không thể tàn nhẫn hạ thủ đánh gục đứa học trò nhỏ dại đang thoi thóp chờ chết này. Trâm nghĩ thầm như vậy.
Tiếng học sinh vẫn nhao nhao “Xét cô! Xét cô!”. Cô Trâm gượng cười bảo: “Không cần đâu các em. Chắc là cô đánh rơi dọc đường”. Trâm bước thẳng về phòng giáo viên, gục đầu xuống bàn buồn da diết.

*
*                       *
Không khí nặng nề chậm chạp trôi qua. Cô Trâm cố khuấy động và giục Liên:
- Nào nảy giờ ngồi im ru, ăn hoài hết kẹo bánh của cô còn gì! Bây giờ em kể cho cô nghe chuyện vui buồn mấy năm qua đi chứ? Có người yêu chưa nè?
Liên nhỏ nhẹ:
- Dạ thưa cô, những chuyện đó hôm nào em sẽ kể. Thưa cô,… có phải hôm đó cô đã biết… em là… thủ phạm lấy viết của cô?
Cô Trâm khẽ cười:
- Biết chứ! Người ta bảo “Có tịt thì nhúc nhít” mà. Chỉ có em mới thay đổi sắc diện, các em khác vẫn hồn nhiên.
Liên cúi đầu nói như sắp khóc:
- Cám ơn cô! Nếu hôm đó cô xét cặp, chắc em chết mất vì xấu hổ! Em cũng nghĩ rằng cô đã nghi em. Nghi thôi, chứ không ngờ cô đã biết! Em còn nhớ sáng hôm sau cô gọi em trả bài, chắc là để dò la em. Em run quá, đọc vấp váp mãi. Em ngạc nhiên sao cô không cho em điểm kém mà cho khất lại hôm khác trả? Sao cô không… trả thù em?
Cô Trâm cười ha hả:
- Trời ơi! Bây giờ sắp làm cô giáo rồi mà còn hỏi ngớ ngẩn vậy sao Liên? Ai mà không có một lần lầm lỡ, nhất là trẻ thơ. Miễn sao lầm lỡ mà biết hối cải thì ai cũng tha thứ. Cô đã thấy em rất hối hận khi sự việc đó xảy ra. Có thầy cô giáo nào nhẫn tâm trù dập, trả thù học trò mình đâu? Cô nghĩ ai có tâm địa ác độc như thế thì đừng nên đứng trong hàng ngũ nhà giáo.
Liên an lòng và dạn dĩ hơn:
- Thưa cô, cho em tò mò một chút. Em thấy trên cây viết có khắc hai chữ “Quân – Trâm”. Vậy chú Quân nào đó có trách cô không?
Cô Trâm yên lặng, mím chặt môi, hai dòng nước mắt khẽ rơi trên má. Liên nhìn quanh quất trong phòng mới thấy dường như cô giáo mình còn độc thân. Liên nghĩ mình thật tệ. Dù là cô Trâm đã chuyển về quê nhưng quê nhà cô và thị xã nơi Liên ở có xa gì đâu mà mấy năm nay Liên không biết gì về cô giáo cũ! Thật lâu cô Trâm mới nghẹn ngào mấp máy được mấy tiếng:
- Em đừng nhắc! Cũng từ việc mất cây viết mà sinh chuyện ly tán đau lòng. Thôi. Người khắt khe như thế cũng không tiếc làm gì!
Liên lảo đảo đứng dậy ôm chầm cô giáo nức nở:
- Cô ơi. Ngày ấy em dại quá, làm liên lụy đến cô! Mong cô tha lỗi…
Liên vội mở chiếc cặp, lấy ra cây viết đã được cất giữ kỹ gần mười năm qua đưa trả lại cô giáo:
- Em xin gởi lại cô kỷ vật đã xui em tội lỗi. Mười năm rồi em có sử dụng nó lần nào đâu. Mỗi lần lấy ra xem là một lần xót xa hối hận!
Trâm ngắm nhìn kỷ vật cũ buồn buồn. Khung trời yêu đương của cô và Quân như hiển hiện ra trước mắt. Nào giảng đường hai đứa chụm đầu ghi ghi chép chép. Nào thư viện ngày ngày hai đứa cùng thủ thỉ hằng mấy giờ liền. Nào công viên tay trong tay xôn xao chiều thứ bảy, cùng dệt biết bao là mộng đẹp. Kỷ vật còn đây mà người xưa nay đâu!
Bất chợt Trâm đưa cây viết lại cho Liên, giọng chùng xuống hẳn:
- Em cất đi! Giữ nó cô thêm buồn…
Liên chăm chăm nhìn cô giáo, đắn đo đáp:

- Nếu cô thấy không cần thì cho em xin. Đây là kỷ vật sâu sắc nhất để em nhớ mãi tấm lòng nhân hậu của cô và cũng là bài học để em cư xử với học trò. Xin cám ơn cô. Thưa cô, bây giờ chú Quân ở đâu? Ngày mai em sẽ tìm chú Quân để nói cho chú ấy rõ việc nầy…

19/07/2014

Trường Thịnh ngày ấy, bây giờ
Phan Lữ Hoàng Hà

Bạn Lý Ngẩu(học cùng cấp với tôi tại Trường THCL Kiến Hòa) đi với tôi qua cầu Chợ Trường Thịnh khá khang trang, bạn nói: “Trước năm 1963, dù lúc đó “tao” còn nhỏ nhưng vẫn nhớ đây là cây cầu khỉ. Khi ông già đưa “tao” qua xã Sơn Hòa(Cái Nứa) đi học, tao phải qua cây cầu đau khổ này rồi mới đón đò ngang sang bển…”

Bên kia sông Cái Cấm là chợ Trường Thịnh


            Xứ sở của đò giang
Chợ Trường Thịnh thuộc xã Thạnh Ngãi(huyện Mỏ Cày Bắc) cách trung tâm thành phố Bến Tre không xa, chừng 5 km đường chim bay. Tuy nhiên, nơi đây là địa bàn heo hút, trắc trở vì muốn đến đây phải vượt qua sông lớn Hàm Luông rồi sông Cái Cấm, Trường Thịnh ở tuốt mỏm trên của cù lao Thanh Tân.
            Trước năm 1975 và cho đến năm 1985, người dân tại Thạnh Ngãi nói chung muốn đến thị xã Bến Tre và ngược lại, phương tiện di chuyển thuận lợi nhất vẫn là đò dù cho đò chạy rề rà, lâu lắc. Tại đây có hai chiếc đò khách(tất nhiên chở thêm hàng hóa) thay nhau chạy là đò Việt Nam và Phước Thành. Hàng đêm, lúc 3 giờ khuya, đò chạy, hành khách đứng ngồi dọc bên sông Hàm Luông, huơ đuốc lá dừa cháy bập bùng gọi đò. Đò tắp vào rước khách, máy đò nổ rong róc, khói máy đò bốc mùi khét lẹt rồi đâm ngang đâm dọc mãi đến lúc khoảng 7 giờ sáng đò mới đến Bến Lở(thị xã Bến Tre). Ở Bến Lở, đò chờ người đi mua bán bổ hàng hóa và khách, lúc khoảng 10 giờ thì đò khởi hành trở về chợ Trường Thịnh. Lại đâm ngang đâm dọc trả khách, có ngày gần 3 giờ chiều đò mới đến Trường Thịnh.
            Còn trên đất liền Thạnh Ngãi, hàng chục con rạch lớn nhỏ cắt chẻ trên địa bàn, người dân muốn đi từ ấp này sang ấp khác, từ Thạnh Ngãi đến các xã lân cận, tất cả đều phải vượt cầu khỉ và đò ngang rồi đò dọc. Lưu danh đến ngày nay trong số đưa đò ngang là ông Hai Tám(thứ Hai, tên Tám), bến tập kết đi đò dọc(từ đồng ruộng ra) là bến bà Mười Chim. Từ Trường Thịnh đi đò ngang qua xã Sơn Hòa(Cái Nứa), Tiên Thủy và ngược lại rất tiện.
            Trước năm 1985, muốn đến chợ Trường Thịnh bằng đường bộ rất khó khăn, vất vả. Ví như hồi còn phà Hàm Luông, vừa qua phà gặp ngay ngôi nhà thờ, rẽ phải, theo con đường vườn và đi thêm khoảng 9 km nữa mới tới sông Cái Cấm. Trường Thịnh ở ngay sát bên kia sông Cái Cấm, muốn qua đây phải lụy đò ngang. Hồi này, người ta đi bộ hoặc đi xe đạp trên con đường vườn khá xa này(từ ấp Thanh Sơn 1 đến ấp Tân Thông 5, xã Thanh Tân) để đến Trường Thịnh. Song chỉ vào mùa khô thôi, vào mùa mưa, bánh xe đạp…quấn sình, chịu chết. Na ná như vậy, ở tuyến trên, từ Ba Vát đến đây cũng men theo đường vườn chông chênh dài xa hơn 7 km.
            Trường Thịnh đổi thay
            Ông Nguyễn Văn Trường, 65 tuổi, ngụ ấp Chợ Mới(xã Thạnh Ngãi) tỏ ra rành rọt về lai lịch chợ Trường Thịnh. Ông Trường cho biết hồi năm 1930, ông hội đồng Dương Công Nông lập ra ngôi chợ ở gần chợ Trường Thịnh bây giờ(còn gọi chợ cũ), sau đó ông hội đồng Nguyễn Minh Luân ra sức lập ra ngôi chợ mới gần sát sông Cái Cấm, khai thị năm 1937; ngôi chợ này lần lượt thu hút nhiều người đến mua bán, phát triển mạnh nên ngôi chợ cũ thưa thớt dần rồi…xập tiệm luôn. Đến năm 1971, trên nền ngôi chợ mới gần sông Cái Cấm, chế độ cũ cất lên ngôi nhà lồng bằng cây cho dân họp chợ, nhưng chợ ẩm thấp lắm, vào những đợt nước rong, nước sông dâng lên, nền ngập lấp xấp…Thời bao cấp(trước năm 1980), vẫn ngôi nhà lồng khiêm tốn đó và hai bên là hai dãy nhà thấp với Hợp tác xã, cửa hàng quốc doanh, người bán kẻ mua, hàng hóa lèo tèo. Ông Trường dẫn tôi ra xem ngôi chợ mới Trường Thịnh gồm 2 nhà lồng tương đối cao ráo, khang trang, sạch sẽ, ông tiếp lời:”Chợ này vừa “khai thị” vào cuối năm 2013…”.


Cầu Chợ Trường Thịnh.

Nhìn hướng Cầu Chợ Trường Thịnh, ông Trường nói giọng vui vui:”Con đường xi măng, bê tông đó rộng 1,8 mét, dài 7-8 km, xe du lịch bảy chỗ ngồi có thể chạy từ chợ Ba Vát vô đến chợ Trường Thịnh khỏe re”.
Nắng đã lên nhiều, anh Ba Muộn, người nắm tay lái chiếc trẹc tại bến chợ Trường Thịnh, khoát lên mặt miếng nước sông Cái Cấm, dụi mắt rồi ngước nhìn ra sông Hàm Luông, nhớ lại:”Duyên phận đò ngang ở đây đã chấm dứt khoảng 20 năm rồi. Đò ngang hồi đó có gan lắm cũng đưa qua sông chừng một, hai chiếc xe đạp. Còn bây giờ với chiếc trẹt này cùng lúc có thể chở 10 chiếc Honda, qua lại liên tục”.
Sau năm 1985, từ xã Thanh Tân đến chợ Trường Thịnh rồi qua UBND xã Thạnh Ngãi, dòng xe cộ đi theo con lộ Thanh Tân rộng 4 mét, dài 9 km, thật thông thoáng. Những con đường vườn ngoằn ngoèo, lầy lội ngày xưa đã thật sự đi vào dĩ vãng. Ở ngôi chợ Trường Thịnh hôm nay, đối diện với hai nhà lồng chợ là hai dãy phố khá khang trang, các hộ ở đó tận dụng mặt bằng của nhà mình bày bán hàng hóa, sinh hoạt êm đềm.Tuy nhiên, nhìn ngôi chợ mới Trường Thịnh và đường nông thôn dẫn vào đây, tôi nhận ra là không gian ở đây thiếu ánh đèn khi về đêm. Một công dân tại ấp Chợ Mới nói với tôi:”Về đêm, trên những con đường nông thôn tối thui như vậy đã xảy ra chuyện giựt giọt, xin đểu người qua đường”. Vấn đề này, thiết nghĩ, Nhà nước và nhân dân cùng ngồi lại để tìm ra biện pháp hữu hiện mà trước hết là cần có những ánh đèn treo trên đường.

Ngang dọc xã Thạnh Ngãi-một địa bàn sông rạch cắt chẻ như bàn cờ tướng- tôi được biết nơi đây có trên 40 cầu nông thôn, đó là chưa kể còn nhiều cây cầu ở trong sâu. Với những chiếc cầu trên cùng hệ thống đường giao thông nông thôn liên ấp, liên xã thông suốt, giờ đây, tất cả xe gắn máy hai bánh đều có thể về đến sân nhà.